AXoay's Blog

Thích thì làm, thế thôi.

Về tổ chức Siêu quyền lực

SIÊU QUYỀN LỰC BILDERBERG KHAI MẠC HỘI NGHỊ 64 TỪ 09/6 ĐẾN 12/6/2016 TẠI DRESDEN ĐỨC QUYẾT ĐỊNH VẬN MẠNG TRUNG QUỐC ?
Wednesday, June 08, 2016:

Khách sạn Kempinski Taschenberg Palais hote tại Dresden, Đức
nơi họp Đại hội Siêu quyền lực Bilderberg 2016

Cảnh sát Đức dàn hàng đứng sát nhau để bảo vệ Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg
VietPress USA (09/6/2016): Hôm nay một tổ chức của Siêu quyền lực Hoa Kỳ và thế giới gọi là BILDERBERG đã khai mạc Hội nghị mật đặc biệt hằng năm lần thứ 64 từ ngày 09/6 đến hết 12/6/2016 tại Khách sạn tráng lệ Kempinski Taschenberg Palais hotel nằm giữa trung tâm thành phố Dresden của nước Đức, rất gần nhà hát nổi tiếng Semper Opera House. Khu vực nầy có rất nhiều khách sạn 5 sao sang trọng. (Xem Khách sạn nơi Bilderberg họp: https://www.kempinski.com/en/dresden/hotel-taschenbergpalais/virtual-tour/)

Cảnh sát đứng dày đặc với chi phí an ninh 4 ngày
là USD 35.638.750.00
Địa điểm họp Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg 2016 là đại khách sạn Kempinski Taschenberg Palais hotel được xây dựng từ năm 1705 và hoàn thành năm 1708 do Johann Friedrich Karcher dùng làm lâu đài cho nữ bá tước Anna Constanze von Hoym ở. Nhưng sau đó bị tàn phá vào năm 1945 khi Thế Chiến Thứ II tràn qua Đức; rồi được xây dựng lại từ đống tro tàn trên nền cũ vào năm 1992 đến 1995 với tổng kinh phí vào thời đó tương đương 127.8 Triệu Euro. Vào ngày 31/3/1995 khách sạn nầy được công nhận là Khách sạn 5 sao nằm trong hệ thống các khách sạn 5 sao của Kempinski và đó là khách sạn 5 sao đầu tiên trong toàn khu vực Saxony bao gồm vùng Upper Sorbian, Ba-Lan, Cộng hòa Czech, Dresden của Đức.

Năm ngoái, Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg họp thường niên lần thứ 63 từ ngày 11/4 đến 14/4/2015 tại Khách sạn Interalpen-Hotel Tyrol trên vùng núi gần Telfs, nước Áo (Austria) ở cao độ 1,300m.(Xem tin VietPress USA: http://www.vietpressusa.com/2015/06/hoi-nghi-sieu-quyen-luc-bilderberg-hop.html)

Nay do tinh hình an ninh và các đe dọa của khủng bố của Quốc gia Hồi giáo ISIS nhắm vào Âu Châu trong thời gian khai mạc Bóng đá EURO 2016 tại Pháp nên Bilderberg chọn địa điểm tại đại khách sạn Kempinski Taschenberg Palais hotel nằm trung tâm thành phố Dresden, khí hậu mát mẻ trong ngày khai mạc chỉ 14 độ C; chung quanh dễ dàng bố phòng và Cảnh Sát Đức rất chuyên nghiệp, với số đông sẵn sàng bảo vệ và kiểm soát được những người biểu tình chống đối.

Dân chúng khắp nơi kéo đến biểu tình. Có người đến từ Hoa Kỳ
Khoản tiền chi phí cho vấn đề bố phòng an ninh trong 4 ngày Hội nghị mật của Bilderberg từ 09/6 đến 12/6/2015 theo báo Daily Mail cho biết là £25,000,000.00 (Bảng Anh) tương đương USD35,638,750.00. Với khoản tiền nầy chi trả cho an ninh bảo vệ chỉ trong 4 ngày nên đã có hằng nghìn Cảnh sát Đức, Quân đội Đức và mật vụ Đức được huy động đến thành phố Dresden để bao kín khách sạn 5 sao Kempinski Taschenberg Palais nơi Siêu quyền lực Bilderberg họp hội nghị 2016.

Lập hàng rào mới bao quanh khách sạn họp Bilderberg
Thật sự cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ tổ chức Siêu quyền lực Bilderberg bao gồm những thế lực nào, đại diện cho ai, chỉ biết có những cơ quan ngôn luận lớn của thế giới cho rằng Bilderberg là một mặt nổi nhỏ của cả một núi băng chìm khổng lồ là Siêu quyền lực “Illuminati”. Báo Daily Mail viết rằng “Some even claim the Bilderberg Group is a cover for the ‘illuminati’ (Một số thậm chí nói Bilderberg là vỏ bọc cho ‘illuminati)’ (http://www.dailymail.co.uk/news/article-3634797/The-global-gathering-rumoured-decide-EU-migration-President-World-s-elite-prepare-arrive-Bilderberg-annual-meeting-not-allowed-know-about.html)

Siêu quyền lực đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1646 tại thị trấn nhỏ Warrington, Anh quốc thời Trung cổ mang tên là “Freemasonry”(Hội Tam Điểm), một tổ chức Huynh Đệ hoạt động theo nguyên tắc bí mật, gia nhập bằng các nghi thức được cho là không đúng với giáo luật Công giáo (Thiên Chúa Giáo) thời bấy giờ nên bị cho là Ma quỷ (Evil), chống lại Thiên Chúa (Anti-Christ).
Freemasonry là một Hội kín (Secret Society) và những người tham gia Hội được tuyển mộ từ giới trí thức khoa bảng; những thành phần lãnh đạo tai mắt thuộc mọi ngành trong xã hội và từ các tôn giáo. Các thành viên gọi là “Mason” phải đọc các lời thề tuyệt đối giữ bí mật Hội, học về các nghi thức, dấu hiệu riêng và mật mã, mật khẩu. Tuy nhiên Hội đặt căn bản là “Tin vào Thượng Đế là Chúa, phát triển Huynh Đệ lãnh đạo xã hội và hoạt động từ thiện để cải tạo thế giới hoàn hảo theo Trật Tự Thế giới mới”.

Hội có ảnh hưởng vào các Vương triều, Cung điện, Vua chúa thời Trung cổ và có tới gần 5 triệu hội viên.. Dấu hiệu (Logo) của Freemasonry hay Freemason là hình góc vuông thước kẻ của thợ mộc và cái Compass ở giữa có chữ “G” là “God” (Chúa) và còn có ý nghĩa “Great Architect of the Universe and Geometry” (Kiến trúc sư vĩ đại của vũ trụ và Hình học). Số Code của Hội kín Masonry là 7, 9, 11, 33, 39.

Khi ông Cristoforo Colombo đi tìm đất Ấn Độ nhưng lạc lên Mỹ Châu vào năm 1492, sau đó là các cuộc di dân từ Châu Âu vào Mỹ tìm vàng và lập nghiệp. Hội kín Freemasonry theo đoàn quân thực dân của các triều dình Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào hoạt động tại Hoa Kỳ. Phong trào di dân ào ạt vào Mỹ sau năm 1600 đa số là người Anh. Vào thập niên 1770, triều đình Anh áp đặt nhiều sắc thuế nặng nề gây bất mãn tại Hoa Kỳ nên Hội kín Illuminati hoạt động chống lại chính quyền thuộc địa Anh.

Siêu quyền lực Illuminati hoạt động tại Hoa Kỳ:

Adam Weishaupt

Illuminati (tiếng Latinh, số nhiều của illuminatus có nghĩa là “giác ngộ, khai sáng”) là tên gọi của một Hội kín (Secret Society) được giáo sư triết Adam Weishaupt tại đại học Ingolstadt thành lập ngày 01 tháng 5 năm 1776 tại vùng Bayern (Bavaria) vào thời kỳ Khai sáng ở châu Âu.

Hội kín Illuminati đặt trên căn bản cải biến từ Hội kín Freemasonry đã lỗi thới. chủ trương chống mê tín, thành kiến, ảnh hưởng tôn giáo lên đời sống công cộng và sự lạm dụng sức mạnh nhà nước để bốc lột dân; hô hào ủng hộ giáo dục cho phụ nữ và bình đẳng giới tính. Chính vì vậy, Hội kín Illuminati bị cấm đoán tại Âu châu và Adam Weishaupt cùng các hội viên bị truy nã tại các nước Âu châu.

Vào giai đoạn đó, Adam Weishaupt qua Hoa Kỳ và dạy về Triết học và Giáo Luật (Canon Law) cho Tu viện các Cha Dòng Tên Jesuit đang bắt đầu mở Tu viện và các Đại học tại Hoa Kỳ. Hội tu Dòng Tên Jesuit (Society de Jesus) do một cựu lính chiến Tây Ban Nha trở thành tu sĩ tên là Ignatius de Loyola thành lập và được Đức Giáo Hoàng Paul III phê chuẩn cho phép hoạt động ngày 27-9-1540 tại Roma để cải đạo cho người Hồi giáo. Ban đầu chỉ có người sáng lập Ignatius de Loyola và 6 môn đệ thề trung thành với Chúa, sống nghèo khó và giữ đồng trinh trong trắng không lập gia đình (http://www.history.com/this-day-in-history/jesuit-order-established).

Từ khi có nhà triết học Adam Weishaupt là người viết lý thuyết thành lập Illuminati được mời vào dạy triết lý và Giáo Luật cho Dòng Tên Jesuit Society thì Illuminati trở thành Siêu quyền lực Hoa Kỳ và thế giới, phát triển nhanh và đã trở thành khối óc, tai mắt, cơ sở điều hành, kinh doanh tài chánh ngân hàng lớn nhất của Vatican có ảnh hưởng bao trùm toàn thể nhân loại của địa cầu nầy và đẩy mạnh tham vọng chinh phục các hành tinh khác ở cách xa Trái Đất.

Ảnh hưởng của Illuminati đã biến Vatican trở thành một Siêu quyền lực. Chính vì vậy, khi một tân Tổng thống Mỹ sau khi đắc cử phải đặt tay trên cuốn Thánh Kinh (Bible) của Công giáo để đọc lời thề lúc nhậm chức. Các Đức Hồng Y khắp nơi trên thế giới về Vatican để bầu tân Giáo Hoàng cũng phải đặt tay trên cuốn Kinh Thánh để thề. Một thành viên mới được tuyển dụng vào Illuminati trong nghi lễ (Ritual) gia nhập cũng đặt tay lên Kinh thánh để thề.

Đồng 1 Đô-la của Mỹ. Mặt sau phía trên có 2 dấu tròn Great Seal và hàng chữ “IN GOD WE TRUST”

Hình dưới là mặt trước, có in hình Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington
Ảnh hưởng và quyền lực của Siêu quyền lực Illuminati lớn đến nỗi trên tờ giấy 1 Đô-la của Mỹ đã in khắp nơi những hình ảnh mang số Code 13 của Illuminati và phải in giòng chữ thật lớn ngay giữa tờ giấy bạc là “IN GOD WE TRUST” (Chúng ta tin vào Chúa).

Những người biểu tình chống Bilderberg
Ngày nay Đức Giáo Hoàng FRANCIS (Phanxicô) là vị Giáo Hoàng đầu tiên từ Dòng tu Jesuit nầy. Là người gốc Brazil, tên thật của Ngài là Jorge Mario Bergogliosinh ngày 17-12-1936. Ngài được thụ phong Linh mục ngày 13-12-1969 và được bầu làm Giáo Hoàng thứ 266 của Vatican ngày 13-3-2013 lúc 79 tuổi khi Giáo Hoàng Benedicto XVI đột ngột công bố từ chức Giáo Hoàng là sự kiện hiến hoi trong vòng 598 năm qua kể từ khi Giáo Hoàng Gregory XII là vị từ chức đầu tiên vào năm 1415.

Trên cương vị tân Giáo Hoàng, Đức Thánh cha Francis nhậm chức ngày 13-3-2013 mang số Code 13 của Illuminati và thay đổi nhiều nghi thức của Vatican khi bỏ Ngai Vàng để ngồi ghế gỗ.! Ngài cũng đã đứng ra thu xếp cho việc Hoa Kỳ và Cuba tái lập lại bang giao và Mỹ bỏ cấm vận Cuba sau 55 năm tuyệt giao. Nay có tin Giáo Hoàng Francis sẽ đến thăm Việt Nam vào năm 2017 để biết đâu giúp câu Sấm Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm trên 500 năm nói đúng về tình hình Việt Nam :
“Có Thầy Nhân Thập đi về,
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.”

“Thầy Nhân Thập” là vị tu sĩ của Thánh giá Chúa đi về Việt Nam để giúp cho trái, phải đều được phù hộ, khiến cây cỏ cũng đều trở thành binh đao diệt tan giặc Tàu xâm lược và bè lũ tham nhũng bán nước.

Ngày 09/11/1989 Đức Giáo Hoàng John Paul II gốc người Ba-Lan đã cùng với Tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên-Xô Mikhail Gorbachev làm sụp đổ bức tường ô nhục ngăn chia Đông và Tây Bá-Linh (Berlin) đưa đến thống nhất nước Đức ngày nay.

Siêu quyền lực Illuminati và Hội nghị Bilderberg :

Với uy tín và ảnh hưởng về thần học và Giáo Luật Công giáo trong Dòng Jesuit cũng được gọi là “Jesuit Society”, Hội kín và các điều lệ được phát triển nhanh chóng và Illuminati trở thành Siêu Quyền Lực như một cơ chế uy quyền bên sau Giáo Hoàng và Giáo triều Vatican.

Để dung hòa giữa Freemasonry và Illuminati, trên Logo của Quốc Ấn Great Seal, vẽ 2 hình tam giác đối ngược nhau, một Tam giác cặp theo Kim Tự Tháp và một Tam giác ngược lại để tạo Ngôi Sao hình 6 Cạnh của Vua David (Ngôi sao của Quốc kỳ Do Thái). 6 đỉnh nhọn của Ngôi sao David sẽ chỉ vào các chử “A” (Annuit) và “S” (COEPTIS) ở hàng trên, và các chữ “N” (NUVUS), “O” (ORDO), “M” (SECLORUM). Các chữ nầy sắp xếp xuôi sẽ là “ASNOM” và xếp theo ẩn dụ sẽ thành chữ “MASON” là tên của Siêu Quyền Lực cũ Freemasonry, hoặc Freemason hay gọi tắt là “MASON”.

Illuminati trở thành Siêu quyền lực, tuyển dụng các hội viên lãnh đạo của Freemasonry, trao quyền cho họ cao hơn và dung hòa các số Code nay chỉ gồm Code chính là số 13 và cac Code phụ là 33, 39. Illuminati tổ chức xã hội Mỹ vào thời đó thành 13 vùng lãnh địa do 13 gia đình quyền lực nắm giữ và bắt đầu chống lại chính quyền thuộc địa của Anh quốc. Cuộc chiến tranh chống sưu cao thuế nặng của 13 lãnh địa của Illuminati đã được Pháp hỗ trợ và cuối cùng chính quyền thuộc địa Anh đã thua trận. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 04/7/1776 do Thomas Jefferson viết đã công bố Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền, tách rời khỏi Vương quốc Anh, chấm dứt chế độ thuộc địa.

Số Code 13 của Illuminati được làm số Code của Hoa Kỳ. Quốc kỳ của Hoa Kỳ có 13 sọc gồm 6 trắng và 7 sọc đỏ, tượng trưng cho 13 Tiểu Bang hay đúng hơn 13 nhóm Siêu quyền lực của Illuminati.

Tờ 1 Đô-la của Hoa Kỳ là căn bản tiền tệ và sức mạnh của Hoa Kỳ. Trên tờ 1 Đô-la một mặt in hình vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington (1789-1797) do danh họa sĩ Gilbert Stuart vẽ. Phía mặt sau của đồng 1 USD có in hình 2 vòng tròn là Con Dấu “Quốc Ấn” (Great Seal) của Hoa Kỳ. Ngay chính giữa tờ Giấy 1 USD có in lớn hàng chữ “IN GOD WE TRUST” (Chúng ta tin vào Chúa)..

Vòng tròn con Dấu Quốc Ấn phía in bên phía trái tờ giấy bạc có in một Kim Tự Tháp gồm 13 lớp gạch. Lớp gạch dưới hết có in các chữ số bằng tiếng Latinh “MDCCLXXVI” có nghịa là “1776” tức năm Hoa Kỳ công bố Độc lập.

Dưới chân Kim Tự Tháp, chạy cặp theo vòng tròn có một băng ghi bằng chữ Latinh “Novus Ordo Seclorum” có nghĩa “New Order of the Ages” (Trật tự mới của các thời đại) mà trong chủ thuyết của Illuminati gọi là “New World Order” (Trật tự Thế giới mới).

Kim Tự Tháp chỉ có 13 lớp gạch và cụt đầu, phía trên có hình tam giác chung quanh lòe ánh sáng. Tam giác tượng trưng “Trinity” là Chúa Trời 3 Ngôi gồm Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong tam giác có hình một con mắt tượng trưng con mắt quan phòng của Chúa Trời. Phía trên hình tam giác, có câu Latinh gồm 13 chữ “ANNUIT COEPTIS” (God favored our undertaking – Chúa giao cho chúng ta đảm nhiệm).

13 lớp gạch của Kim Tự Tháp tượng trưng cho “Thời đại cũ”. Trên đầu đứt ngang của Kim Tự Tháp là ánh sáng phát ra tượng trưng ánh sáng của Chúa Ba Ngôi; nhưng cũng tượng trưng chuyển qua “Thời đại mới” của “Trật tự Thế giới mới” (New World Order).

13 lớp gạch của Kim Tự Tháp nhân cho 13 năm mỗi lớp gạch sẽ là: 13 lớp gạch x 13 năm mỗi lớp = 169 năm.

Lấy 169 năm + năm 1776 ghi trên lớp gạch dưới cùng là năm Hoa Kỳ công bố Độc Lập thì sẽ ra năm 1945 là năm thế giới bước qua “Thời đại mới” đó là Thời đại Nguyên Tử vì lần đầu Hoa Kỳ dội bom Nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaky của Nhật Bản.

Ngày 04/7/1776 là Ngày Độc Lập của Hoa Kỳ, nay công đúng 169 năm sẽ là ngày 04/7/1945. Ngày Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ là Harry S. Truman, thành viên của Hội kín Freemasonry mang Code 33, đã ký lệnh “Mission 13” cho chiếc máy bay B-29 Enola Gay thả Trái Bom Nguyên tử đầu tiên mang tên “Little Boy” xuống thành phố Hiroshima Nhật Bản nằm cạnh Vĩ tuyến 33 vào ngày 06/8/1945 giết tại chỗ 140.000 người.

Tính từ ngày 04/7/1945 đến ngày dội bom Nguyên tử Hiroshima 06/8/1945 là cách đúng 33 ngày. Rồi 3 ngày sau vào 09/8/1945, trái bom nguyên tử thứ nhì Fat Man đã thả xuống thành phố Nagasaki Nhật Bản giết trên 70.000 người. Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện và chiến tranh Thế Giới lần II đã kết thúc ngày 02/9/1945.

Về dấu tròn Great Seal phía phải trên tờ 1 Đô-la của Mỹ, có in hình con Chim Ó quay đầu về bên phải tượng trưng Hoa Kỳ luôn nghĩ đến điều phải, hành động phải (right). Chân phải của Chim Ó cầm chùm lá Ô Liu gồm 13 chiếc lá tượng trưng cho Hòa Bình. Thế nhưng chân trái của Chim Ó lại cầm một bó gồm 13 mũi tên sắc nhọn nói lên Mỹ cũng luôn luôn đáp trả bằng chiến tranh.

Mỏ con Chim Ó ngậm một dãi băng ghi hàng chữ gồm 13 ký tự bằng Latinh “E PLURIBUS UNUM” (Out of Many, One – Giữa Nhiều, chỉ có một). Trước ngực con Chim Ó là Lá Cờ có 13 cái sọc. Cuối cùng trên đầu con Chim Ó có một chòm gồn 13 ngôi sao

SỐ ĐỊNH MỆNH CỦA HOA KỲ LÀ 13 THEO CODE CỦA ILLUMINATI:

Illuminati chọn số 13 làm Code. Nay lấy 26 chữ cái trong mẫu tự ABC để quy ra các số tương ứng như sau:
A=1, B=2, C=3, D=4, E=5, F=6, G=7, H=8, I=9, J=10,
K=11, L=12, M=13, N=14, O=15, P=16, Q=17, R=18, S=19, T=20
U=21, V=22, W=23, X=24, Y=25, Z=26.

Hoa Kỳ viết tắt là USA và một số Cơ quan đầu não của Mỹ mang Code 13 được tính như sau:

USA : U=21, S=19, A=1 > 2×1=2+1=3+9=12+1 =13
CBS : C=3, B=2, S=19 > 32-19 =13.
CNN : C=3, N=14, N=14 > 3+1+4+1+4 =13
CIA : C=3, I=9, A=1 > 3+9+1 =13
DHS : (Department of Human Services)
D=4, H=8, S=19 > 4×8=32-19 = 13
IBM : I=9, B=2, M=11 > 9+2=11 +1+1 =13
FBI : F=6, B=2, I=9 > 6-2=4 +9 =13
NSA : National Security Agency
N=14, S=19, A=1 > 1+4=5-19 =13
AOL (America On-Line)
A=1, O=15, L=12 > 1+15=16-1=15-2 =13
FEMA (Federal Emergency Management Association)

F=6, E= 5. M=13,A=1 > 6-5=1+13=14-1 =13
EPA (Environmental Protection Agency)
E=5, P=16, A=1 > 5+1=6+6=12+1 =13
WHO (World Health Organization)

W=23, H=8, O=15 > 2×3=6-8= 2-15 =13
NATO (North Atlantic Treaties Organization)
N=14,A=1,T=20,O=15 > 14-1=13 -20= 7+1= 8+5 = 13
NAFTA (North American Free Trade Agreement)
N=14, A=1, F=6, T=20, A=1 > 1×20=20 +6=26 +1=27 -14 =13
TBN (Trinity Broadcasting Network)
T=20, B=2, N=14 > 20-2=18 -1=17 -4 =13
NFL : N=14, F=6, L=12 > 12+6= 18-4=14-1 =13
NBA : N=14, B=2, A=1 > 14-2= 12+1 =13

Trong khi đó một số Cơ quan đầu não khác hay một số Quốc gia hoặc Tổ chức Quốc tế có liên quan với Siêu quyền lực Hoa Kỳ thì vẫn giữ Code 33 của Freemasonry, ví dụ:

NASA (National Aeronautics and Space Administration)
N=14, A=1, S=19, A=1 > 14-1=13 +19=32 +1 =33

HAARP (High-Frequency Active Auroral Research Program) là chương trình phát sóng Radio rất mạnh để truyền tin, thằm dò, nghiên cứu hợp tác giữa Hải quân Hoa Kỳ, Không Quân Hoa Kỳ, Đại học Alaska và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.
H=8, A=1, A=1, R=18, P=16 > 8-1=7+1=8 +18=26 +1=27+6 =33

UN (United Nations – Liên Hiệp Quốc)
U=21, N=14 > U (2+1=3) & N (1-4=3) : 3 đặt sát 3 đọc là 33

XFL : X=24, F=6, L=12 > 24+6=30 +1=31 +2 =33
ABC : A=1, B=2, C=3 > 1+2 =3 đặt gần 3 = 33
UK (United Kingdom – Anh quốc đồng minh của Mỹ)
U=21, K=11 > 2+1=3 x11 =33

Hội nghị lần đầu tiên của Siêu Quyền Lực và tên gọi Bilderberg:

Bilderberg Hotel 1954 tại Oosterbeek, Hà-Lan

Hội nghị Siêu quyền lực Illuminati lần đầu tiên được triệu tập một số người hạn chế tổ chức từ ngày 29 đến 31/5/1954 tại khách sạn Bilderberg ở Oosterbeek, Netherlands (Hà Lan). Kể từ đó tổ chức nầy lấy tên là Bilderberg chỉ là một phần hoạt động mặt nỗi của Illuminati mà thôi.

Vào sau Thế chiến thứ II, khi các nước Âu châu bị tàn phá bởi Thế chiến II thì Hoa Kỳ không ảnh hưởng gì nên phát triển mạnh khiến xảy ra một phòng trào bài xích Hoa Kỳ gọi là “Anti-Americanism”.

Hình ảnh Hội nghị Bilderberg đầu tiên1954

Theo yêu cầu của một số nhà lãnh đạo Tây Âu và với sự thu xếp của Illuminati, một hội nghị những nhà lãnh đạo cao cấp, các chủ ngân hang, các nhà khoa học, kinh tế, tài chánh, chính trị, quân sự; kể cả những lãnh đạo chính phủ Mỹ và Châu Âu được mời họp kín để tạo sự đoàn kết cùng phát triển tồn tại, tránh xảy ra chiến tranh Thế giới lần thứ III.

Hoàng tử Hà Lan là Bernhard hỗ trợ hội nghị; có sự tham dự của Thủ tướng Bỉ Paul Van Zeeland; cựu chủ tịch tập đoàn Unilever Đức là Paul Rijkens, cựu Giám đốc CIA Walter Bedell Smith; đại diện của Tổng thống Eisenhower là Charles Douglas Jackson và rồi có 50 phái đoàn từ 11 Quốc gia tham dự; mỗi phái đoàn hạn chế 2 đại diện phái bảo thủ và tự do. Có 11 quốc gia Tây Âu tham gia hội nghị lần đầu. Dần dần Hội nghị mở ra các vấn đề quốc tế trọng đại và ảnh hưởng đến gần như cuộc sống của mọi người trên toàn thế giới mà ít ai biết được. Những sự thành công do Hội nghị Bilderberg mang lại đã khiến tổ chức nầy lập ra Ban Điều Hành thường trực gọi là “Steering Committee”.

Bilderberg tháng 5/1954

Từ phiên hội nghị lần thứ nhất, Bilderberg đã bầu chính trị gia gốc Ba-Lan là Joseph Hieronim Retinger (1/4/1888 – 12/6/1960) làm Tổng Thư Ký vĩnh viễn. Ông chủ trương phong trào “European Movement” và sau đã tiến tới thành lập Liên Hiệp Âu Châu “European Union”. Ông là một trong những người chủ trương tổ chức họp Đại hội thường niên Bilderberg nhưng tiếc rằng ông đã qua đời vì bệnh ung thư phổi vào ngày 12/6/1960 và phần mộ của ông đang yên nghỉ tại nghĩa trang North Sheen, Luân-Đôn, Anh quốc.

Trong lần Đại hội Siêu quyền lực Bilderberg từ ngày 09/6 đến đến 12/6/2016 sẽ dành một phút tưởng niệm nhà sáng lập tổ chức Đại hội thường niên là Joseph Retinger đúng 56 năm ngày mất của ông.

Sau Đại hội lần đầu vào năm 1954, những lần đại hội hằng năm tiếp theo được tổ chức tại Pháp, Đức, Đan Mạch. Đến năm 1957 lần đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ trên đảo St. Simons Island thuộc bang Georgia với sự tài trợ của Ford Foundation. Hãng nầy cũng tài trợ các năm 1959 và 1963. Xem danh sách địa điểm các kỳ Họp hằng năm của Bilderberg kể từ phiên họp đều tiên đến nay tại Link sau đây http://www.bilderbergmeetings.org/conferences/2010.html

Danh Sách Người Tham Dự Và Đề Tài Bilderberg 2016:

Chỉ 3 ngày trước khi khai mạc Hội nghị, trang Website của Bilderberg mới công bố địa điểm họp tại đại khách sạn Kempinski Taschenberg Palais hotel., Dresden, Germany. Ban Điều hành cũng cho hay sẽ không có bất cứ văn bản nào liên quan đến phiên họp và các phát biểu không được ghi lại hay công bố. Hoàn toàn không cho báo chí truyền thông và công chúng hay biết gì về Hội nghị Bilderberg 2016. Những thành phần tham dự đều có lời thề cam kết giữ bí mật như thế.

Henry Kissinger đến Hội nghị Bilderberg 2016

Tuy nhiên cũng có vài tin tức lọt ra bên ngoài cho hay Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg 2016 sẽ có 126 thành viên tham dự, trong đó 2/3 thuộc các quốc gia Âu Châu và 1/3 thuộc về Hoa Kỳ và Châu Mỹ (Trung Mỹ và Nam Mỹ).Trong danh sách năm nay, có cả Thủ tướng Anh David Cameron; Henry Kissinger; cựu Giám đốc Điều hành Ngân hàng Chase Manhattan là David Rockfeller; Sam Altman, Chủ tịch chương trình tái tạo và phối hợp hạt giống; Richard Engel của NBC News; Thượng nghị sĩ Lindsay Graham của South Carolina; LinkedIn CEO Reid Hoffman; và đồng sáng lập PayPal là Peter Thiel.. VietPress USA sẽ đăng đầy đủ danh sách 126 thành viên tham dự trong bài kế tiếp.

Chương trình nghị sự kỳ Đại hội Bilderberg 2016 sẽ bàn đến các vấn đề cấp thiết sau đây:

1. Vấn đề Trung Quốc và các chế tài trừng phạt cần thiết.
2. Vấn đề Trung Đông;
3. Vấn đề đối với Nga và Tổng thống Vladimir Putin
4. Vấn đề chính trị tại Hoa Kỳ trong đó bao gồm chọn lựa hỗ trợ cho ai là tân Tổng Thống Mỹ trong cuộc bầu cử 2016; các vấn đề kinh tế phát triển; giải quyết nợ và phục hồi kinh tế.
5. Vấn đề An ninh mạng và mở rộng Internet toàn cầu.
6.Vấn đề chống Khủng bố và chống các mối đe dọa nguyên tử.
7. Vấn đề bình ổn giá cả hàng hóa và năng lượng theo vùng Địa-Chính trị trên toàn cầu.
8. Giúp đỡ lớp người sống bấp bênh và lớp trung lưu (Precariat and middle class).
9. Các phát minh về khoa học kỹ thuật.

Trong ngày đầu tiên khai mạc, được biết Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg đã thảo luận và tìm các khía cạnh cần thiết giải quyết và đối phó, trừng phạt Trung Quốc đang gây rối trên Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam – South China Sea) Trung Quốc bất chấp trật tự thế giới mới; tự tạo cho mình một trật tự riêng, lấn chiến cướp biển đảo của các nước láng giếng; đưa chiến đấu cơ bay đe dọa máy bay Hoa Kỳ bay trên không phận quốc tế. Hội nghị Siêu quyền lực hỗ trợ quyền tài phán của Tòa án Quốc tế The Hayes sẽ phán quyết vụ Philippines kiện Trung Quốc chiếm biển đảo của Phillippines.

Có tin tiết lộ rằng, Siêu quyền lực Illuminati đã có những tính toán chia Trung Quốc ra thành ít nhất 5 Quốc gia gồm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Hong Kong – Thượng Hải và Trung Quốc (Bắc Kinh) và đưa người lãnh đạo của Siêu Quyền Lực vào nắm Trung Quốc và cả Nga theo Code 13 sau đây:

CHINA : C=3, H=8, I=9, N=14, A=1 > 3+8= 11-9 =2-14 =12 +1 = 13
KGB (Russian Intelligence)
K=10 đảo ngược 01, G=7, B=2 > 2×7=14 -01 =13

Đọc bài tiếp theo: NGÀY THỨ NHÌ PHIÊN HỌP MẬT CỦA SIÊU QUYỀN LỰC BILDERBERG 10/6/2016 BÀN VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ NATO VÀ TRỪNG PHẠT CHẾ TÀI NGA

Hạnh Dương, dịch và tổng hợp.
http://www.Vietpressusa.com

 

FBI KHÔNG TRUY TỐ BÀ HILLARY CLINTON VỀ VỤ EMAILS TRONG KHI CÓ TIN SIÊU QUYỀN LỰC BILDERBERG ĐÃ CHỌN BÀ LÀM TỔNG THỐNG HOA KỲ
Tuesday, July 05, 2016:

Giám Đốc FBI James B. Comey công bố không có bằng chứng luận tội
bà Hillary Clinton trong vụ Emails
VietPress USA (5/7/2016): Mừng Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ năm nay, Ngày 4 tháng 7, người vui nhất, cười thoải mái nhất có lẽ là “Bà Ngoại” Hillary Clinton. Bà là cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ, vì vừa rồi vào ngày 20/6/2016, bà Hillary Clinton đã thực sự trở thành “Bà Ngoại” khi con gái duy nhất của bà và Tổng thống Bill Clinton là ái nữ Chelsea Clinton đã sinh hạ con trai đầu lòng đặt tên là Aidan Clinton Mezvinsky

VietPress USA đã chúc mừng bà khi bà và phu quân là cựu TT Bill Clinton đến bệnh viện Lenox Hill ở New York ngày 20/6/2016 để đón con gái và con rễ Marc Mezvinsky ẵm cháu ngoại mới sinh về nhà (http://www.vietpressusa.com/2016/06/chuc-mung-nu-ung-cu-vien-tong-thong-ang.html).

Hôm nay Thứ Ba 05/7/2016 tin vui nhất cho bà khi Giám Đốc FBI là ông James Comey chính thức thông báo rằng Cơ quan Điều tra Liên bang Hoa Kỳ không đề nghị cáo buộc hình sự đối với cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton trong vụ bà đã dùng máy cá nhân để truy cập và gởi các Emails công vụ của Bộ Ngoại giao trong thời gian bà làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ (Tin và Video: http://www.nytimes.com/2016/07/06/us/politics/hillary-clinton-fbi-email-comey.html?_r=0).

Phu quân là cựu TT Bill Clinton cầm cuốn Kinh Thánh cho vợ là
Bà Hillary Clinton thề khi nhậm chức Ngoại trưởng Hoa Kỳ năm 2009
Giám đốc FBI James Comey khẳng định rằng cuộc điều tra được tiến hành rất cẩn trọng, trung thực và trong sạch. Cơ quan FBI không chịu áp lực từ bất cứ ai. Ông James Comey nói rằng các cuộc điều tra đã kết luận rằng bà Hillary Clinton đã hoàn toàn vô ý trong việc sử dụng máy cá nhân để dùng địa chỉ Email cá nhân gởi các Emails cho công việc quốc gia, không cố ý, và không dấu giếm gì bên trong. Trong tổng số Emails khổng lồ lối 30.000 Emails, có 8 Emails trao đổi chứa đựng thông tin mật. Bà Clinton cùng cộng sự đã “quá bất cẩn” khi sử dụng địa chỉ Email riêng và máy chủ cá nhân để trao đổi những thông tin bảo mật. Ông cũng nói thêm, một quan chức chính phủ thông thường có thể phải đối diện với xử phạt hành chánh nếu có hành động như vậy.

Ông James Comey nói phải có chứng cứ cho thấy bà Hillary Clinton cố tình gởi và nhận những Emails chứa thông tin mật mới cáo buộc hình sự được. Nhưng trong trường hợp này, FBI không tìm ra chứng cứ nào cả nên FBI công bố “không có chứng cứ bà Clinton vi phạm luật,” và “không có truy tố hợp lý.” Giám đốc FBI nhấn mạnh, “Hành vi này tệ, nhưng chưa đến mức độ cáo buộc hình sự!”

Bà Bộ trưởng Tư pháp Rosetta Lynch và cựu TT Bill Clinton
Trước đó 5 ngày, bà Bộ trưởng Tư pháp Rosetta Lynch trả lời báo chí phỏng vấn đã cho hay rằng khi máy bay của bà đáp xuống Phi trường Fairfax thì cũng đúng lúc máy bay của cựu TT Bill Clinton đáp xuống và chỉ là gặp gỡ tình cờ và kho6g ai đề cập đến việc FBI điều tra bà Hillary Clinton. Tuy nhiên bà Lynch cho biết Bộ Tư Pháp sẽ quyết định tùy theo kết quả phúc trình của FBI. Và như vậy nay FBI đã không đề nghị kết tội thì chắc chắn Bộ Tư Pháp không có lý do gì làm khác đi.

Trong những ngày vừa qua, phía đảng Cộng Hòa tung chiến dịch cáo giác bà cựu ngoại trưởng Hillary Clinton là vi phạm luật lệ Hoa Kỳ vì trong thời gian làm Ngoại Trưởng dưới thời TT Barack Obama từ năm 2009 đến năm 2013, bà đã dùng các phương tiện cá nhân như Laptop và Điện thoại Smart Phone để truy cập và trả lời các Emails có tính cách công vụ của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Phe của ứng cử viên tỷ phú Donald Trump kêu gọi phải luận tội bà Hillary Clinton và nhốt tù bà. Trong khi đó một đối thủ cùng đảng Dân Chủ với bà Hillary Clinton là Thượng nghị sĩ Bernie Sanders cũng đổ dầu vào lửa chỉ trích bà bằng nhiều lời lẻ cay độc cho đến ngày ông nầy rụng hết càng không còn chạy đua được nữa nên tuyên bố ủng hộ bà Hillary Clinton.

Video TT Barack Obama ủng hộ bà Hillary Clinton xứng đáng làm Tổng Thống Hoa Kỳ:

Sau khi trả lời FBI vào ngày Thứ Bảy 02/7 về vụ sử dụng hộp thư điện tử cá nhân khi lãnh đạo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Ứng cử viên Tổng thống của đảng Dân Chủ, bà Hillary Clinton, tỏ ra hài lòng về buổi điều trần với Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ khi bà tuyên bố trong cuộc phỏng vấn trên chương trình Truyền hình “Meet The Press” (Gặp gỡ Báo chí) do NBC thực hiện ngày Chủ Nhật 03/07/2016.

Trả lời với Truyền hình NBC qua điện thoại, Bà Hillary Clinton nói rằng cuộc nói chuyện với FBI là một buổi làm việc rất chuyên nghiệp và lịch sự. Bà cho hay rằng, từ tháng 8 năm 2015, chính bà đã đề nghị có một buổi làm việc với FBI, cho dù trước đó bà cũng hơi lo ngại; nhưng nay bà tỏ ra rất hài lòng vì đã có dịp trả lời mọi thắc mắc của các thanh tra cao cấp FBI để giúp Cục Điều tra Liên Bang có đủ dữ liệu để điều tra được sáng tỏ hơn và giúp công luận thấy rõ hơn những việc bà đã làm không có gì sai trái làm hại cho an ninh Hoa Kỳ. Bà nói với Truyền hình NBC rằng bà khẳng định rằng trong suốt thời gian làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ từ năm 2009 đến khi xin rút lui vào năm 2013, bà đã không làm điều gì phi pháp và chưa bao giờ sử dụng hộp thư điện tử cá nhân để gửi thư mật.

Khi được hỏi về cuộc gặp gỡ gây xôn xao giữa phu quân của bà là cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton với đương kim bộ trưởng Tư Pháp Mỹ Loretta Lynch đầu tuần trước tại phi trường Phoenix, bà Hillary Clinton nói đó chỉ là cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai người bạn quen biết nhau từ trước chứ nếu có ý gì khác thì phải hẹn một nơi kín đáo hơn.

Ngoại trưởng Hillary Clinton và Phụ tá đang dùng iPhone gởi Email
Ông Donald Trump và phía đảng Cộng Hòa cho rằng cựu TT Bill Clinton đã gặp bà Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ Loretta Lynch để dàn xếp vụ án có thể bị FBI kiện bà Hillary Clinton vi phạm pháp luật dùng phương tiện cá nhâ để truy cập và gởi thư mật của Bộ Ngoại giao.

Bà Hillary Clinton nói rằng việc tình cờ gặp nhau giữa hai người quen không liên quan gì đến vấn đề các Emails của bà; nhưng bà nói rằng việc tế nhị thì phu quân của bà và bà Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ sẽ không gặp nhau cho đến sau khi có cuộc tranh cử chính thức.

Năm ngày trước khi FBI chất vấn bà Hillary Clinton hôm Thứ Bảy 02/7, cựu TT Bill Clinto đã bất ngờ gặp bà Bộ trưởng Tư Pháp Loretta Lynch tại Phi trường Phoenix Sky Habor International Airport tại Arizona (3400 E Sky Harbor Blvd, Phoenix, AZ 85034) và ông Bill Clinton đã lên trên phi cơ của bà Bộ trưởng Loretta Lynch để nói chuyện với nhau lối 30 phút theo báo chí Hoa Kỳ tường thuật.

Vụ nầy đã bị các báo chí Hoa Kỳ nghi rằng ông Bill Clinton lên tận máy bay tiếp chuyện với bộ trưởng Tư Pháp Loretta Lynch trong vòng 30 phút là một sai lầm nghiêm trọng. Đặc biệt là trong lúc bà Bộ trưởng Tư pháp Loretta Lynch được trao trọng trách điều tra về khả năng cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton có vi phạm luật pháp hay không khi sử dụng hộp thư điện tử cá nhân trong công việc của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cần phải bảo mật tuyệt đối. Đối với Ứng cử viên đối thủ là Donald Trump và phe Cộng Hòa thì đây là cơ hội ngàn vàng để họ tuyên truyền hạ điểm tín nhiệm của bà Hillary Clinton và họ mong sẽ luận tội được bà để đảng Dân Chủ không còn cơ hội đưa kịp người ra tranh cử Tổng Thống sẽ bầu cử chính thức vào ngày 08/11/2016 sắp tới.

Thế nhưng sau 3 tiếng rưởi đồng hồ chất vấn, FBI có phúc trình và thông báo rằng không có bằng chứng và không có lý do gì để buộc tội bà cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton vi phạm trọng tội.

Ngoại trưởng Hillary Clinton đang dùng Blackberry phoe
để nhận và gởi Emails của Bộ Ngoại giao khi bà đi họp ở Châu Âu
Bà Hillary Clinton nói với MSNBC rằng bà đã đề nghị và mong muốn có cuộc đối chất nầy với FBI và nay thì bà rất an tâm. Và cho đến hôm nay, sau ngày lễ Độc Lập, Giám đốc FBI James Comey mới đưa ra quyết định không truy tố bà Hillary Clinton vì không tìm thấy bằng chứng tội phạm.

Trong liên tiếp 3 tuần qua, điểm tín nhiệm của bà Ứng cử viên Hillary Clinton lên cao trong khi điểm của nhà tỷ phú Donald Trump càng lúc càng tụt hậu nên lần nầy khi nghe tin FBI đã chất vấn bà Hillary Clinton và không kết tội bà; Ứng cử viên Cộng Hòa Donald Trump đã cay độc trên mạng Twitter của ông rằng “Không thể để cho FBI không đưa ra ý kiến buộc tội chống lại Hillary Clinton được. Điều bà ta làm là sai trái! Và điều Bill Clinton làm là ngu ngốc”. Donald Trump nói vụ cựu TT Bill Clinton vừa gặp bà Bộ trưởng Tư pháp Loretta Lynch.

Sau khi nghe tin Ứng Cử viên Hillary Clinton sẽ không bị kết tội, Donald Trump càng nỗi giận hơn và viết trên Twitter rằng “It was just announced-by sources-that no charges will be brought against Crooked Hillary Clinton. Like I said, the system is totally rigged!” (Mới có tin cho biết rằng không có cáo buộc nào sẽ đưa ra để chống con mụ gian dối Hillary Clinton. Đúng như tôi đã nói, cả cái hệ thống nầy là gian lận!).

Henry Kissinger đã hỗ trợ Hillary Clinton mạnh mẽ
tại Hội nghị Bilderberg 2016 đề làm Tổng thống Mỹ
Hôm qua khi mừng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 làn thứ 240 của Hoa Kỳ, có lẽ người hạnh phúc và vui mừng nhất nước Mỹ là “bà Ngoại” Hillary Clinton, Ứng cử viên chính thức của đảng Dân Chủ. TT Barack Obama trong Video Clip kèm theo đã ca ngọi bà Hillary Clinton hết lời. Bà là nữ Ngoại trưởng năng nỗ nhất, bay đi nhiều nơi nhất trên khắp thế giới so với bất cứ Ngoại trưởng nào trong chính phủ Hoa Kỳ. Bà là người từng chỉ mặt Ngoại trưởng Trung Quốc trong một phiên họp về tình hình Á Châu và an ninh Biển Đông và nói “Trung Quốc phải về cải tổ nhâ quyền nếu không muốn bị tan ra từng mãnh!”.

Bà là Đệ I Phu nhân đầu tiên của Hoa Kỳ trở thành Thượng Nghị sĩ, rồi Ngoại trưởng Hoa Kỳ và nay là ứng cử viên có phần chắc chắn sẽ là nữ Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà đã có kinh nghiệm về chính trị; có kinh nghiệm 8 năm làm Đệ I Phu nhân giúp cho chồng là TT Bill Clinton điều hành nước Mỹ thịnh vượng và thành công; có những năm làm Ngoại trưởng xuất chúng dưới thời TT Barack Obama từ năm 2009 đến năm 2013. Nay nếu bà làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì sau lưng bà có các cựu Tổng thống Mỹ làm cố vấn gồm Bill Clinton, Barack Obama, Jimmy Carter..

Điều quan trọng là Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ và Thế giới qua Hội Nghị Siêu Quyền Lực Bilderberg năm 2015 đã chọn bà Hillary Clinton như VietPress USA đã loan tin (Xem Link: http://www.vietpressusa.com/2015/06/hoi-nghi-sieu-quyen-luc-bilderberg-hop.html).

Hội nghị mật Siêu Quyền Lực Bilderberg họp từ ngày 11/6 đến 14/6/2015 tại Khách sạn Interalpen-Hotel Tyrol trên vùng núi gần Telfs, nước Áo (Austria) ở Âu Châu đã không cho ông Jeb Bush vào tham dự, mà đã đón nhận một đại diện chính thức của cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton trong số 140 thành viên Bilderberg dự họp (http://www.vietpressusa.com/2015/06/cuu-thong-oc-florida-jeb-bush-cong-bo.html).

Nay tại phiên Hội nghị mật của Siêu Quyền Lực Bilderberg năm 2016 họp tại Dresden ở nước Đức từ ngày 09/6 đến 12/6/2016 với 126 thành viên tham dự đã có quyết định ngăn cấm không cho Tỷ phú Donald Trump thắng cử trở thành Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.

Video InfoWars: Siêu Quyền Lực Bilderberg hậu thuẩn Hillary Clinton làm Tổng Thống 2016


Ngày 27-01-2016, trong một bài báo đăng trên mạng InfoWars (Link: http://www.infowars.com/top-bilderberger-global-super-elite-must-stop-donald-trump/) dưới tựa đề “Một người tham dự Hội nghị thường ký Bilderberg và là Chủ bút Tài Chánh Thời Báo (Financial Times) là ông Martin Wolf cho biết rằng “Giới siêu việt toàn cầu” phải ngăn chặn Donald Trump không được thắng chức Tổng Thống” (Nguyên văn: Regular Bilderberg attendee and associate editor of the Fiancial Times Martin Wolf insists that the “global super elite” must stop Donald Trump from winning the presidency).

VietPress USA đã viết về Hội Nghị Siêu Quyền Lực Bilderberg 2016 theo Link sau đây (http://www.vietpressusa.com/2016/06/sieu-quyen-luc-bilderberg-khai-mac-hoi.html).

Bài báo của InfoWars nói rằng Martin Wolf là người được giới chóp bu của thế giới Siêu Quyền Lực biết đến vì ông ta viết bài cho họ” và căn cứ vào các bạn thân là những chủ Ngân Hàng Trung ương nên trong một bài Quan điểm của Ban Biên Tập, ông Martin Wolf đã nói rằng ” Những kẻ chủ trương dân số quốc gia hạn hẹp không được thắng cử. Chúng ta biết câu chuyện nầy kết thúc rất xấu. Trong trường hợp của Hoa Kỳ, kết quả sẽ có ý nghĩa toàn cầu rất quan trọng. Nước Mỹ là quốc gia tiên phong xây dựng nên và tiếp tục là nước bảo đảm cho trật tự tự do toàn cầu. Thế giới tực sự cần tài lãnh đạo Mỹ đầy hiểu biết, trong khi ông Trump không thể đáp ứng được điều nầy. Kết quả có thể sẽ rất thảm khốc”, ông Wolf đã viết như vậy.

“Nếu như các nhà siêu quyền lực Tây phương coi thường những vấn đề quan tâm của nhiều người thì sau nầy họ sẽ rút lui khỏi những cam kết thỏa thuận trong các chương trình của Siêu quyền lực”, Martin Wolf viết tiếp.

Bài báo viết tiếp rằng “Giống như chúng tôi đã nói hôm qua, những nhà thu xếp quyền lực của Davos dự tính ngăn cấm Trump thắng ghế vào Tòa Bạch Ốc, và với tư cách Giám đốc Điều hành nỗi tiếng Martin Sorrell quả quyết rằng “Không quan trọng bất cứ ai mà đảng Cộng Hòa đưa lên… Hillary sẽ thắng cử”.

Jim Messina (phải) đang nói về Hillary Clinton sẽ là Tổng Thống Mỹ
Tờ Financial Times (Tài chánh Thời Báo) là tờ báo cho các hồ sơ về giới siêu quyền lực toàn cầu và đã được đại diện trong giới lãnh đạo của Tổ chức Siêu Quyền Lực Bilderberg qua một số cá nhân, kể cả Gideon Rachman, người mà trong Đại hội Siêu Quyền Lực năm 2008 đã kêu gọi thành lập một Chính phủ Toàn Cầu (Global Government).

Hội nghị Bilderberg 1991 tại Đức, Bill Clinton đã được mời và mấy tháng sau ông trở thành Tổng thống Hoa Kỳ thay thế Tổng thống Bush bố chỉ được một nhiệm kỳ.

Năm 2008 Barack Obama và Hillary Clinton đã đến dự Bilderberg tại bắc Virginia và Thượng nghị sĩ Obama được chọn làm Tổng thống Mỹ. Jim Messina là thành viên quan trọng của các hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg đã làm Cố vấn Báo chí của TT Barack Obama và bảo đảm Obama tái đắc cử năm 2012. Năm 2015, Jim Messina đã giúp chương trình tái tranh cử cho Thủ tường Anh David Cameron và ông tái đắc cử với số phiều đáng ngạc nhiên.

Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg 2015 từ 11/6 đến 14/6/2015 tại Áo, Jim Messina đã đại diện cho bà Hillary Clinton tham gia Hội nghị nầy. Sau Hội nghị, ngày 01/7/2015 Jim Messina trả lời phỏng vấn của báo Politico đã cho rằng TT Barack Obama là một thành công của Tổng thống Reagan Mới; đồng thời Jim Messina nói rằng “.. sau tuần lễ lớn của Tổng thống, đất nước nầy sẽ tiến bước vững chắc với các giá trị của đảng Dân Chủ để hầu như cam chắc rằng Hillary Clinton sẽ là Tổng Thống năm 2016” (http://www.politico.com/story/2015/07/jim-messina-obama-new-ronald-reagan-213109).

Jim Messina đầu năm 2016 đã nhận lời làm Trưởng Ban Vận Động Tranh cử Tổng thống 2016 cho ứng cử viê Dân chủ Hillary Clinton. Ngày 9/6 đế 11/6/2016, Jim Messina là thành viên từ Hoa Kỳ đến dự Hội nghị Siêu quyền lực Bilderberg họp mật tại Dresden, Đức và Hội nghị nầy đã có quyết định hỗ trợ Hillary Clinton trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 45 vào ngày bầu cử 08/11/2016 sắp tới đây.

Hạnh Dương dịch và tổng hợp
http://www.Vietpressusa.com

Tháng Sáu 11, 2017 Posted by | Không phân loại | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Một số trang web hay

A. Các trang web nước ngoài

1. Viện Cato
2. Viện Mises

3. Viện brookings

4. Báo foreignaffairs
5. Chủ nghĩa tự do cá nhân
6. Bách khoa thư triết học
………
B. Các trang web trong nước
1. Chuyên trang triết học
2. Blog của dịch giả Phạm Nguyên Trường
3. Diễn đàn Talawas
4. Blog triết học Chuyện đâu đâu
5. Đổi mới và phát triển
6. F group
7. Luật khoa
8. Nghiên cứu quốc tế
9. Nhân quyền
10. Tia sáng

http://tiasang.com.vn/

11. Tạp chí thời đại
12. Trang của Trần Hữu Dũng
13. Chúng ta
14. Tư liệu dịch của Đại sứ
quán Mỹ

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/trans_doc.html

15. Học viện công dân

http://icevn.org/

16. Nghiên cứu lịch sử

17. Học thế nào
18. Blog của Hoàng Phong Tuấn

https://hoangphongtuan.wordpress.com/

19. Phân tích kinh tế
20. Xã hội học

http://sociallife.vn/

21. Blog của TS. Nguyễn Minh Tuấn
http://tuanhsl.blogspot.com/

22. Blog của GS. Nguyễn Văn Tuấn

http://tuanvannguyen.blogspot.com/

23. Tâm lý học tội phạm

http://tamlyhoctoipham.com/

 

 Nguồn : http://tinhthankhaiminh.blogspot.com/

Tháng Tám 15, 2016 Posted by | Không phân loại | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tổng kho Long Bình: Hệ thống kho ngầm đã được mở khóa hay chưa?

Tổng kho Long Bình: Hệ thống kho ngầm đã được mở khóa hay chưa?

Tổng kho và căn cứ Long Bình nhìn từ trên cao.

Tổng kho Long Bình được canh phòng cẩn mật và giữ bí mật ở mức độ cao. Phải chăng vì vậy, cho đến nay – dù đã “đổi chủ” hơn 40 năm song vẫn còn nhiều bí ẩn chưa có lời giải?

Những con số khiến thiên hạ phải giật mình

Sau khi thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” và đưa quân đội vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam, lượng vũ khí và quân trang quân dụng để bảo đảm cho đội quân này tăng lên theo cấp số nhân và càng ngày càng lớn.

Theo các tài liệu thống kê để lại cho biết: Lượng đạn dược được chuyển đến Việt Nam trung bình khoảng 40.000 tấn/tháng trong năm 1966, một năm sau số lượng đã tăng lên gần gấp đôi đạt 75.000 tấn/tháng vào năm 1967.

Đầu năm 1968 số lượng vận chuyển đã tăng lên đến 90.000 tấn/tháng, đến giữa năm 1968 số lượng đã vượt quá 100.000 tấn/tháng.

Đấy mới chỉ là khối lượng đạn dược. Còn để phục vụ đầy đủ cho một đội quân nhà nghề “được trang bị tới tận răng” như quân đội Mỹ thì còn biết bao nhiêu thứ quân trang, quân dụng khác.

Từ các phương tiện chiến tranh như máy bay, xe tăng, pháo cối… cùng với khí tài vật tư dự trữ phục vụ sửa chữa, bảo dưỡng trang bị cho đến lương thực thực phẩm, quân trang quân dụng, đồ dùng sinh hoạt… của mỗi người lính còn cao gấp nhiều lần con số đó.

Trong khi đó, theo yêu cầu của Bộ tư lệnh quân viễn chinh Mỹ tại Nam Việt Nam thì số lượng vật chất dự trữ phải đảm bảo đủ cho quân đội sử dụng ít nhất là 6 tháng.

Và đó chính là lý do bức bách mà Mỹ phải tiến hành xây dựng Tổng kho dự trữ chiến lược tại Long Bình – một địa điểm vừa thuận lợi cho quá trình tiếp nhận hàng hóa, đồng thời cũng có thể nhanh chóng tiếp tế cho cả 4 vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô.

Tổng kho Long Bình: Hệ thống kho ngầm đã được mở khóa hay chưa? - Ảnh 1.

Tổng kho và căn cứ Long Bình nhìn từ trên cao.

Với quy mô như vậy, Tổng kho Long Bình được xây dựng trên diện tích khoảng 24 km2 với hàng chục phân kho. Mỗi phân kho bao gồm hàng chục dãy nhà kho cả nổi cả chìm tùy theo loại hàng hóa mà nó chứa trong đó.

Các nhà kho nổi thường được làm bằng nhà thép tiền chế khẩu độ rộng với chiều dài từ vài chục đến hàng trăm mét. Còn các kho chìm dùng để chứa bom đạn, hóa chất… thì thường có mái vòm bằng tôn dày, sau đó đổ đất lên trên.

Xung quanh các nhà kho thường có lũy đất hoặc thùng phuy sắt đổ đất xếp chồng lên nhau bảo vệ. Một số hàng hóa cồng kềnh, nặng nề như máy bay trực thăng, xe tăng, xe thiết giáp – nhất là số cũ hỏng đem về đổi và sửa chữa thì để ở ngoài trời…

Để ra vào tổng kho (TK) có 12 cổng mở theo nhiều hướng khác nhau với hệ thống đường sá rất hiện đại. Hàng ngày có hàng ngàn chuyến xe trọng tải lớn ra vào song không bao giờ có hiện tượng ùn tắc xảy ra.

Với khối lượng hàng hóa tàng trữ trong kho lên đến hàng chục triệu tấn, TK Long Bình trở thành kho dự trữ chiến lược lớn nhất ngoài nước Mỹ của quân đội Hoa Kỳ và được quản lý bằng máy tính IBM 360/50- một trong những hệ thống máy tính hiện đại nhất thời đó.

Do tính chất quan trọng như vậy, TK Long Bình được bảo vệ hết sức cẩn mật và nghiêm ngặt. Xung quanh TK có hàng rào dây thép gai từ 7 đến 12 lớp; giữa các hàng rào dây thép gai đều bố trí mìn nhiều loại. Phía trong và ngoài hàng rào đều bị phát quang.

Phía trong hàng rào có đường dành cho xe tuần tra. Dọc đường tuần tra, cứ vài trăm mét lại có một tháp canh, trên đó được trang bị đèn pha cực mạnh để chiếu sáng ban đêm. Giữa các phân kho cũng có hàng rào dây thép gai.

Toàn bộ phần bên trong kho gần như không có cây xanh lớn, chỉ có loại cỏ Mỹ mà lá sắc như dao. Đảm nhiệm công tác bảo vệ kho thường xuyên là 2000 sĩ quan, binh lính.

Ngoài ra, còn một số đơn vị chiến đấu cũng có doanh trại trong khuôn viên kho nhưng được ngăn cách đặc biệt với kho hàng.

Có điều không hiểu sao trong khi các nhà kho xây dựng rất vững chắc, lâu bền thì nhà ở của sĩ quan, binh lính và nhân viên trong kho lại khá đơn giản và có vẻ ngắn hạn. Đó thường là loại nhà làm bằng gỗ xẻ lợp tôn.

Tổng kho Long Bình: Hệ thống kho ngầm đã được mở khóa hay chưa? - Ảnh 2.

Lính Mỹ tại Tổng kho và căn cứ Long Bình.

Các thanh gỗ kích thước 15 x 6 cm được lắp ghép thành khung nhà (chỗ nào là cột thì ghép 2-3 thanh bằng đinh rồi bắt bu- lông xuống nền bê tông), mặt trong vách dùng gỗ dán, mặt ngoài gỗ xẻ “lợp” như vẩy cá.

Giữa hai lớp là chất chống nóng khá giống mùn cưa. Sàn cũng bằng gỗ xẻ và trải một lớp nhựa mỏng. Nhà ở của sĩ quan thường là nhà 2 tầng, phòng có máy điều hòa nhiệt độ; còn binh sĩ và nhân viên thì ở nhà 1 tầng, khu vệ sinh chung.

Mặc dù được bảo vệ như vậy song TK Long Bình cũng đã bị đặc công Quân giải phóng (QGP) “hỏi thăm” nhiều lần và cũng tổn thất đáng kể. Một số trận đánh tiêu biểu như:

Trận đánh ngày 23.6.1966, phá hủy 40.000 viên đạn pháo.

Đêm 03.02.1967, làm nổ tung 40 dãy nhà kho, phá hủy 800.000 viên đạn pháo.

Ngày 13.8.1972, phá hủy 17 dãy nhà, thiêu hủy 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu, diệt 300 địch.

Ngày 14.12.1972, phá hủy gần 200 xe quân sự.

Từ khi thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội Mỹ giảm dần sự hiện diện tại chiến trường miền Nam. Cho đến khi Hiệp định Pa- ri được ký kết, quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam thì TK Long Bình cũng từng bước được bàn giao cho quân lực Việt nam Cộng Hòa (VNCH).

Khi về tay VNCH, lượng hàng hóa trong kho vẫn còn tương đối phong phú nên quân lực VNCH vẫn khá dồi dào về nhiên liệu, đạn dược.

Các tài liệu lưu trữ cho thấy: Tháng 2.1973, quân lực VNCH đã sử dụng 78.000 tấn bom đạn – nghĩa là gần bằng những tháng cao điểm khi còn quân Mỹ. Trong cả năm 1973, VNCH sử dụng 326.000 tấn bom đạn, nhiều nhất từ trước đến lúc ấy.

Tuy nhiên, của kho không vô tận. Cùng với lượng viện trợ của chính phủ Mỹ giảm dần từ 1,4 tỷ USD/ năm xuống 700 triệu, rồi 300 triệu USD/ năm, lượng hàng hóa viện trợ cũng giảm sút nhanh chóng.

Theo hồi ký của TS Nguyễn Bá Cẩn, một trợ lý thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì từ năm 1973 trở đi, lượng hàng hóa, vật tư dự trữ trong TK Long Bình chỉ đủ đảm bảo cho quân đội 3 tháng thay vì 6 tháng như trước đây.

Mùa Xuân năm 1975, sau những thất bại liên tiếp tại địa bàn Quân khu I và II, ông Thiệu chủ trương “trì hoãn chiến” cố giữ lấy quân khu IV và vùng đất còn lại để tìm một giải pháp chính trị nên đã ra lệnh cho quân đội phân tán TK Long Bình về địa bàn Quân khu IV (Miền Tây Nam Bộ).

Tuy nhiên, công việc này được triển khai chậm và thiếu tính tổ chức nên không mấy hiệu quả và thất thoát nhiều.

Hãy nghe một sĩ quan VNCH thuộc Quân đoàn 4 hồi tưởng:

“Ngày 28.4.1975- Ban chỉ huy Trung đoàn đóng tại Trường Trung học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ.

TK Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc GMC và xe JEEP các loại kèm theo một lệnh miệng: Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, sử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.

Vừa xe, vừa gạo và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô”.

Trước tình hình ấy, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, một phân đội đặc công của QGP Miền (B2) được giao nhiệm vụ tiến công TK Long Bình và họ đã hoàn thành nhiệm vụ mà không gặp mấy khó khăn. Từ đó, TK Long Bình thuộc quyền kiểm soát của QGP miền Nam Việt Nam.

Tổng kho Long Bình: Hệ thống kho ngầm đã được mở khóa hay chưa? - Ảnh 3.

Trước sức tấn công mạnh liệt của Quân giải phóng, binh lính VNCH rút chạy thục mạng.

Những tin đồn “vô tiền khoáng hậu”

Do quy mô lớn, lượng hàng hóa phong phú lại được bảo vệ hết sức cẩn mật nên ngay từ khi mới đưa vào sử dụng, TK Long Bình đã được bao bọc trong màn khói vô cùng bí hiểm và gây sự chú ý đặc biệt đối với dân chúng xung quanh nói riêng cũng như cả miền Nam nói chung.

Người ta thì thầm rỉ tai nhau: “TK Long Bình không thiếu một thứ gì, kể cả những loại vũ khí tối tân nhất!”. Rồi họ ngó trước, ngó sau và tranh luận với nhau xem trong đó có “bom nguyên tử hay không?”.

Lại có người viện dẫn lời của những người quen biết làm “ở trỏng” mà khẳng định chắc nịch: “Trong đó có 2 “mũi tên gẫy” là loại vũ khí tối tân nhất của Mỹ, có sức hủy diệt ngang với bom nguyên tử và vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu”.

Người ta còn mắt trước mắt sau rồi thì thầm vào tai nhau: “Ngoài những nhà kho trên mặt đất thì TK Long Bình còn một hệ thống hầm ngầm lớn hơn rất nhiều (có người còn khẳng định rộng đến 300 km2).

Các kho ngầm này có nhiều lớp cửa, khóa cửa có mã khóa bí mật. Nếu mở không đúng sẽ tự hủy và vụ nổ này có thể sẽ tàn phá một nửa thành phố Sài Gòn và toàn bộ thành phố Biên Hòa”.

Thật sự đó là những thông tin hết sức hấp dẫn đối với trí tò mò của mọi người và nó cứ thế lan truyền!

Trong khi đó, ngay sau 30.4.1975 TK Long Bình được sử dụng làm nơi đóng quân của hầu hết các đơn vị binh chủng kỹ thuật của Binh đoàn Hương Giang như Lữ đoàn xe tăng 203, các Lữ đoàn Pháo binh, Công Binh và Phòng Không….

Tuy nhiên, các đơn vị này cũng chỉ sử dụng phần doanh trại của các đơn vị quân đội và nhà ở của sĩ quan, binh sĩ, nhân viên tổng kho và không đụng chạm gì đến các phân kho.

Trong thời gian đầu – khi mà công tác bảo vệ kho chưa vào quy củ chặt chẽ thì “lính tráng” các đơn vị cũng giành nhiều thời gian khám phá xung quanh và họ chỉ biết trầm trồ trước sự phong phú, dồi dào của hàng hóa, vật tư chứa chất ở nơi đây.

Riêng về xe quân sự – kể cả tăng thiết giáp và ô tô- đã lên đến gần 1.000 chiếc. Tất nhiên, họ cũng thu một số “chiến lợi phẩm” song chủ yếu là đồ ăn, thức uống cùng một số vật tư phục vụ cho việc bảo quản, bảo dưỡng trang bị mà thôi.

Còn các đơn vị cũng tranh thủ tăng cường vào biên chế của mình một số loại phương tiện vận tải thích hợp.

Một thời gian ngắn sau đó, TK Long Bình được giao cho Tổng cục Kỹ thuật quản lý. Từ đó, công tác bảo vệ và bảo quản được tiến hành chặt chẽ hơn rất nhiều nên hầu hết vật tư, hàng hóa trong TK vẫn còn nguyên vẹn.

Song song với việc đó, một đoàn cán bộ kỹ thuật của QĐND Việt Nam từ Hà Nội vào đã nhanh chóng tiếp quản và khai thác thành công hệ thống máy tính IBM360/50- trong đó có dữ liệu quản lý kho của quân lực VNCH.

Sau khi khai thác thành công – khoảng 1 tháng sau ngày tiếp quản, đoàn công tác đã cung cấp cho Tổng cục Kỹ thuật danh mục toàn bộ hàng còn tồn trong các kho, trong đó kho lớn nhất là Tổng kho Long Bình.

Đây là một thành công lớn trong công tác tiếp quản Tổng kho của QĐND Việt Nam.

Với dữ liệu đầy đủ và lực lượng được tăng cường, công tác quản lý và bảo quản hàng hóa, vật tư trong TK Long Bình đã càng ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo quy trình nghiêm ngặt đối với những chủng loại hàng hóa khác nhau.

Các loại hàng hóa, vật tư phù hợp đã được huy động phục vụ cho việc sửa chữa trang bị vũ khí. Đặc biệt là phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế.

Một số phế liệu hoặc vật tư lưỡng dụng có thời hạn cũng được thanh lý để dùng vào mục đích dân dụng như lốp xe cũ, nhựa đường…

Thời kỳ đổi mới, một phần diện tích của TK Long Bình cũ đã được sử dụng cho mục đích khác như xây dựng khu công nghiệp, doanh trại quân đội, nhà ở cho cán bộ- nhân viên…

Tuy nhiên, phần lớn diện tích vẫn tiếp tục được sử dụng làm kho của Quân đội, vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt và vẫn có phần kỳ bí như xưa.

Trong điều kiện đó, những tin đồn xung quanh cái Tổng kho bí ẩn vẫn tiếp tục được lan truyền rộng rãi, nhất là khi có một sự kiện nào đó như cháy, nổ xảy ra quanh khu vực đó.

Nào là: “Việt nam đã nhờ cả Liên Xô mở khóa các kho ngầm, một số chuyên gia đã bị hy sinh song vẫn không thành công!”.

Nào là: “Sau khi quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ được bình thường hóa, phía Mỹ đã đề nghị Việt Nam cho họ mở khóa với điều kiện sẽ “cưa đôi” những thứ trong đó- riêng 2 “mũi tên gẫy” phải trả về cho họ. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà phía Việt Nam không đồng ý”… v.v… và v.v…

Những tin đồn về TK long Bình không chỉ tồn tại trong nước mà cả ở nước ngoài- nhất là ở Mỹ. Thậm chí một tờ báo Mỹ còn đưa tin:

“Năm 2001, Mỹ từng cử 1 đội biệt kích thuộc quân đoàn Gost Recon và Skull tham gia chiến dịch thu hồi 2 “mũi tên gãy” ở VN nhưng nhiệm vụ thất bại. Toàn bộ 12 binh sĩ Mỹ hi sinh tại Long Bình do bị phát hiện. Tất cả thi thể 12 binh sỹ đều bị tiêu huỷ hoàn toàn”.

Không loại trừ sẽ còn nhiều lời đồn đoán “vô tiền, khoáng hậu” nữa về bí ẩn Tổng kho Long Bình tùy theo trí tưởng tượng của tác giả. Thôi thì ai tin cứ tin! Còn Tổng kho Long Bình thì vẫn thế mà thôi!

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt

Tháng Năm 15, 2016 Posted by | Không phân loại | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

Tìm hiểu Israel và dân tộc Do Thái

Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

Nguồn: nghiencuuquocte.net

Trong các sắc dân trên thế giới, có lẽ hiếm có dân tộc nào chịu số phận bị đọa đày, miệt thị và khổ ải như dân tộc Do Thái với hai lần thiên di, lần thứ nhất bắt đầu vào năm 722 và lần thứ hai bắt đầu vào năm 135 Trước công nguyên (BCE). Trải qua 21 thế kỷ lưu vong, tứ tán khắp nơi và đến năm 1948 người Do Thái mới thực hiện được ước mơ “Phục quốc” (Zionism), vốn được một nhà báo Do Thái gốc Áo-Hung khởi xướng tại châu Âu từ năm 1896. Trong cùng cảnh ngộ tương tự, nhiều sắc tộc, dân tộc khác trong cùng khu vực Lưỡng Hà đã bị tiêu vong hoặc đồng hóa từ lâu. Nhưng ngược lại, mặc dù chịu những đau khổ, mất mát (như nạn diệt chủng Holocaust của Đức Quốc xã rồi nạn lưu đày, trại tập trung) nhưng người Do Thái không chỉ duy trì được tôn giáo, văn hóa, nòi giống, bản sắc của mình, mà có những ảnh hưởng vượt trội trong cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng góp vào sự tiến bộ chung của nhân loại.

Với tổng số khoảng 14,5 triệu người sống rải rác tại 73 nước trên khắp thế giới (trong đó riêng tại Israel là 6 triệu, ở Mỹ 5,6 triệu), người Do Thái chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 0,2% tổng dân số thế giới. Tuy nhiên, trong số những người nhận được giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực vật lý, hóa học, kinh tế và y tế từ đầu thế kỷ XX đến nay, các nhà khoa học gốc Do Thái đến từ các quốc gia khác nhau đoạt được khoảng 30% tổng số giải thưởng trên.

Về địa hình, địa thế, Israel nằm ở vị trí hết sức khắc nghiệt, khác với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới:

  • Israel nằm ở ngã ba của 3 châu lục (châu Á, châu Phi, châu Âu), là mục tiêu “chinh phạt” trong suốt gần 3000 năm qua của hàng chục đế chế châu Âu, Trung Đông, từ đế quốc La Mã, Assyria, Ottoman và gần đây nhất là Anh do có thành phố Jerusalem mà 3 tôn giáo lớn trên thế giới (Thiên Chúa giáo, Do Thái Giáo và Hồi giáo) đều coi là nơi đạo của mình sinh ra và “phát tích”;
  • Thiên nhiên của Israel hết sức khắc nghiệt. Là quốc gia chỉ có diện tích trên 20,000 km2 (bằng hai phần ba diện tích đảo Hải Nam), mà Israel có tới 60% là sa mạc, lượng mưa trong năm vào khoảng 50mm, tức bằng 1/30 của Việt Nam;
  • Dân số Israel chỉ có 8 triệu người (trong đó có 6 triệu người Do Thái), nhưng lại bị tứ bề bao vây bởi 300 triệu dân Hồi giáo Ả-rập thù địch.

Sau hàng ngàn năm lưu lạc, khi được Liên Hợp Quốc trao quyền lập quốc năm 1948, những người Do Thái từ khắp nơi quay trở về cố quốc, giành giật từng tấc đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi” với người Ả-rập. Cũng từ đây họ có cơ hội sử dụng tư chất Do Thái của mình để bảo vệ Đất Thánh (Holy Land), bắt đầu tiến trình được “chúa giao phó” nhằm cải tạo mảnh đất khô cằn này thành Miền Đất hứa (Promised Land) như trong Kinh Thánh Do Thái và bắt mảnh đất này “nhả kim cương”, chứ không phải nhả vàng!

Trên vùng đất khô cằn và thiếu nước này, người Do Thái đã cải tạo và biến Israel trở thành “ốc đảo”, là “vườn rau” của châu Âu trong mùa đông với một nền nông nghiệp có năng suất và hiệu quả cao nhất thế giới. Với một số dân làm nông nghiệp ít ỏi (chỉ 2,5% trên tổng số gần 8 triệu dân), Israel không chỉ tự túc “an ninh lương thực”, cung cấp đủ lương, thực phẩm chất lượng cao cho mình, mà mỗi năm nông nghiệp đem về 3,5 tỷ USD từ xuất khẩu. Một ha đất nông nghiệp của Israel có thể trồng được tới 300 tấn cà chua bi, còn “Cô gái Do Thái” (bò Israel) cho ra sản lượng sữa tới 12 tấn/năm, so với 9 tấn của “Cô gái Hà Lan”.

Một số nguyên nhân chính:

  • Khoa học nông nghiệp phát triển: Các nhà khoa học Do Thái nghiên cứu, lai tạo các cây trồng thích hợp với thổ nhưỡng khắc nghiệt (chịu nhiệt độ cao, khô cằn cần ít nước), nhưng lại cho năng suất cao;
  • Sử dụng có hiệu quả và triệt để “vàng trắng” là nước. Israel là nước đi đầu trên thế giới về công nghệ tái sử dụng nước (khoảng 70% lượng nước đã qua sử dụng); công nghệ biến nước biển thành nước lợ hoặc nước ngọt; công nghệ tưới nhỏ giọt (họ không dùng tưới phun vì lãng phí nước). Chẳng hạn, nước biển được dẫn vào các trang trại nuôi cá nước lợ (sau khi đã khử độ mặn); còn nước nuôi cá lại được tái sử dụng để tưới cây. Hệ thống tưới nước nhỏ giọt với các đường ống dẫn nước tới từng cây trồng trong với hệ thống máy tính đo độ ẩm, mức độ hấp thụ của cây để tự động điều chỉnh lượng nước tưới nhỏ giọt cho phù hợp.

Sức mạnh quốc phòng và ảnh hưởng của Israel

Nói đến bảo vệ đất nước Israel trong môi trường khắc nghiệt như vậy thì không thể không kể đến sức mạnh quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của nước này. Israel hiện được xếp trong số 10 quốc gia có sức mạnh quốc phòng lớn nhất thế giới, nhưng lại có ngân sách quốc phòng ở mức thấp nhất trong các nước này (15 tỷ USD/năm).

Để dễ hình dung, mặc dù dân số chỉ bằng khoảng 1/8 dân số nước Anh và ngân sách quốc phòng hàng năm chỉ bằng 1/3 của Anh, nhưng Israel có sức mạnh không quân đứng thứ tư thế giới, tương đương như của Anh. Như vậy nếu tính hiệu quả/số tiền chi cho quốc phòng (nói theo cách của Mỹ là “More Bang For the Buck”), thì Israel có thể là số 1 thế giới.

Tạm gác một bên con số thương vong của Israel và Hamas, trong cuộc chiến vừa qua, cả thế giới đều kinh ngạc khi chứng kiến tính hiệu quả của hệ thống đánh chặn tên lửa Mái Vòm (Iron Dome) khi chặn được tới 90% tên lửa của Hamas bắn sang Israel và gần 7000 tên lửa của Hamas bị phá hủy (cả do bị không quân Israel không kích nữa) có tầm bắn bao phủ 50% lãnh thổ và 80% dân số của Israel. Mặc dù ở ngay sát cạnh Gaza, nhưng tên lửa của Hamas bắn sang chỉ gây thương vong cho 6 dân thường (trong đó có 1 người Thái) và toàn bộ các hoạt động kinh tế khác của đất nước Israel, cũng như sinh hoạt của người dân nước này hầu hết không bị ảnh hưởng và vẫn diễn ra bình thường.

Mặc dù là đồng minh số 1 của Mỹ ở Trung Đông và thế giới, Israel vẫn cho rằng phải tự lực tự cường về quân sự, với chính sách quốc phòng riêng và dựa vào sức mình là chính. Để có sự “độc lập” tối đa, Israel không ký bất kỳ hiệp ước liên minh nào với Mỹ. Ngay cả hệ thống phòng chống tên lửa Patriot của Mỹ khi đưa sang Israel trong cuộc chiến Vùng Vịnh II để chặn tên lửa Scud của Iraq, Israel cũng thấy bất cập vì Patriot gần như bất lực và quá tốn kém khi đối phó với các tên lửa “tự chế” của Hamas.

Một số điểm nổi bật:

  • Ba tổ hợp quân sự của Israel là Elbit System, Israeli Aerospace Industries và Rafael nằm trong số 100 công ty sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới. Israel xuất khẩu tới 90% vũ khí sản xuất và hàng năm thu về 3 tỷ USD từ xuất khẩu vũ khí;
  • Các vũ khí của Israel thường được tích hợp rất nhiều tính năng về tầm bắn, mức độ công phá, khả năng sát thương… so với các vũ khí tương tự như của Mỹ, Nga và quan trọng là giá cả lại cạnh tranh hơn rất nhiều. Lấy súng tiểu liên GALIL của Israel so với AK47 làm ví dụ. Đạn sử dụng cho GALIL có đường kính 5,56mm, so với 7,2 mm của AK47, mức độ giật thấp hơn (dễ sử dụng cho lính nữ, mà lính nữ Israel khá đông), điều đó cho phép người lính khi ra trận mang được cơ số đạn nhiều hơn. Theo “triết lý” của người Israel, tuy mức sát thương của GALIL không cao như AK47, nhưng lại có hậu quả lớn. Một là, khi ít người bị chết trận trong chiến tranh thì sự lên án và sức ép quốc tế giảm; Hai là, khi có người lính bị chết thì thông thường đối phương sẽ bỏ lại, nhưng nếu có người lính bị thương thì cần 2, 3 đồng đội dìu và do đó sẽ làm giảm sức chiến đấu của đối phương hoặc tạo ra mục tiêu mới để tiêu diệt; Ba là, làm cho đối phương chịu các hệ quả xã hội lâu dài khi chăm sóc thương binh (vì nếu lính tử thương thì chỉ lo môt lần), và do đó các tiếng nói phản chiến, hoặc gánh nặng xã hội từ bên đối phương sẽ khiến họ phải cân nhắc nhiều hơn các quyết định chiến tranh sau này.
  • Tuy dân số ít, nhưng Israel duy trì được quân số thường trực khá lớn nhờ có luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với cả nam (36 tháng) và nữ (24 tháng) – trừ những người Israel gốc Arab hoặc một số ít người được miễn vì lý do tôn giáo, và những người đã khi phục vụ nghĩa vụ quân sự xong đều được đưa vào danh sách lính dự bị. Trong quân đội Israel, lính nữ có vai trò thực sự chứ không phải “lính cảnh” khi họ góp tới 1/3 quân số, chiếm tới 51% tổng số sĩ quan. Đây có thế không hẳn là điểm yếu. Do hầu hết những người trưởng thành ở Israel được tôi luyện trong môi trường quân đội, huấn luyện bài bản về bản lĩnh, tính kỷ cương, và sự quyết đoán, nên tác phong này lan tỏa trong toàn bộ xã hội ở khía cạnh tích cực nhất.

Việc người Do Thái có các nhóm vận động và tác động vào nền chính Mỹ rất mạnh là điều hiển nhiên, và mọi người đều biết. Các nghị sĩ gốc Do Thái thống thường chiếm khoảng 10% trong tổng số 534 nghị sĩ Mỹ và nhiều chính trị gia tầm cỡ gốc Do Thái như cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, ứng cử viên tổng thống Joe Lieberman… có ảnh hưởng lớn đến các quyết sách của Mỹ đối với Israel và an ninh của Israel.

Tuy nhiên, có điều ít người biết về quy tắc “không thành văn” là để vào được vòng cuối, các ứng cử viên Tổng thống Mỹ ngoài việc phải tuyên thệ trung thành với Mỹ, họ phải thuộc nằm lòng câu sẽ bảo vệ an ninh của Israel và thúc đẩy quan hệ đồng minh Mỹ-Israel sau khi đắc cử. Nói đúng nghĩa thì đó là sự vận động “ngược” để được các nhóm vận động Do Thái hậu thuẫn. Nếu không, chắc chắn họ sẽ bị đánh bật từ “vòng gửi xe”.

Không chỉ có vậy, báo chí, và các nhóm vận động có ảnh hưởng của người Do Thái còn “soi” rất kỹ tiểu sử và các phát ngôn của các lãnh đạo cấp cao trong tương lai nữa xem họ có thực sự nghĩ và làm đúng như điều họ nói không. Gần đây nhất, cựu Thượng nghị sĩ Chuck Hagel suýt bị Thượng viện Mỹ (mà hầu hết là “đồng nghiệp” khi Hagel làm Thượng nghị sĩ) cho “té đài”. Số phiếu Thượng viện bỏ cho Hagel với cương vị Bộ trưởng Quốc phòng là 56/100 trong khi theo quy định phải là 60/100 và cuối cùng các nghị sĩ phải “sửa” quy định bỏ phiếu thì Hagel mới “thoát”. Chả là khi còn là Thượng nghị sĩ của Nebrasca, có lần “nóng mắt” vì sự lộng hành của các Nhóm vận động Do Thái mà Hagel buông ra câu: “Tôi không phải là Thượng nghị sĩ Israel, mà là Thượng nghị sĩ Mỹ” (nguyên văn: I am not an Israeli Senator, I am a United States Senator)!

“Chủ nghĩa xã hội” kiểu Israel 

Tư tưởng “xã hội chủ nghĩa” như tự do, bình đẳng, bác ái in rất đậm nét trong tư duy, nền tảng chính trị và xã hội của Israel. Khi tiếp xúc với các giới khác nhau của Israel như như học giả, nhà ngoại giao, kinh tế gia và quan chức chính quyền, họ không những không phủ nhận, mà còn rất tự hào về điều này. Về hình thức có thể thấy như sau:

Một là, các Kibbudz (Công xã của người Do Thái), tương tự như một số “anh em” ở các nước khác như Nông trang tập thể (Liên Xô cũ); Công xã nhân dân (Trung Quốc) hay hợp tác xã của ta. Trong khi hầu hết những người anh em khác đều đã “thăng thiên” thì Kibbudz vẫ sống khỏe, và đang chuyển mình rất mạnh từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang mô hình quản lý hiện đại, có các trung tâm nghiên cứu, sản xuất các mặt hàng công nghệ cao, thiết bị quốc phòng… Hiện tại ở Israel có khoảng 270 Kibbudz, thu hút 100.000 người sinh sống, đóng góp khoảng 12% sản phẩm công nghệ cao và 40% sản lượng nông nghiệp xuất khẩu của Israel.

Các Kibbudznik là những cư dân sống trong các Kibbudz trên cơ sở tự nguyện, không có bất kỳ sở hữu riêng mà làm chung, hưởng chung, sinh hoạt chung và được Kibbudz cung cấp nhà cửa, chăm sóc y tế, trông giữ con cái. Nếu muốn, bất kỳ người Israel nào cũng có thể “làm đơn” xin vào Kibbudz nếu chấp nhận các nguyên tắc, luật lệ chung (do từng Kibbudz đặt ra), ngoài ra họ có thể dời bỏ các Kibbudz bất kỳ lúc nào nếu cảm thấy không còn phù hợp.

Hai là, Công đảng Israel (đảng của người lao động, có nhiều thiên hướng xã hội chủ nghĩa) được sáng lập bởi những người Do Thái trở về từ Liên Xô khi Nhà nước Do thái ra đời năm 1948. Do đó, họ mang nặng ý thức hệ và chịu ảnh hưởng bởi ý thức hệ chủ nghĩa xã hội từ Liên Xô. Từ năm 1948-1977, Công đảng đóng vai trò chi phối hệ thống chính trị Israel, và vai trò “độc quyền” này chỉ bị Đảng Likud “hạ bệ” vào năm 1977.

Ba là, trong giai đoạn 1948-1977, vai trò của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chi phối nền kinh tế Israel. Sở dĩ nhà nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước có vai trò lớn là do ngoài ý thức hệ, Israel còn được nhận khoản tiền bồi thường rất lớn từ nước Đức do gây ra nạn diệt chủng Holocaust nên dễ bề thao túng chính sách. Tuy nhiên, từ giữa những năm 1970, cùng với sự thay đổi chính trị, kinh tế cũng có những thay đổi theo hướng thị trường với sự ra đời của các doanh nghiệp tư nhân và tiến trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Các đồng nghiệp Israel cho biết, khi sinh thời, Thủ tướng và người sáng lập Nhà nước Do Thái David Ben Gurion rất ngưỡng mộ Hồ Chủ Tịch và phong trao đầu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Còn các Tưỡng lĩnh Israel thì coi Võ Nguyên Giáp là nguồn cảm hứng.

Về nguồn gốc tư tưởng “xã hội chủ nghĩa” của người Do Thái, nhiều đồng nghiệp Israel cho rằng có thể lần ngược đến thời kỳ Kinh Thánh ra đời, và trong kinh thánh tiếng Hebrew của người Do Thái đã ghi rõ cả việc đối xử bình đẳng, không chỉ giữa người với nhau, mà còn với cả nô lệ và súc vật nữa. Ngoài ra, suy nghĩ đó còn được hình thành một cách bản năng, ẩn sâu trong suy nghĩ của họ xuất phát từ việc trong hơn 2000 năm chịu thân phận lưu vong, hèn mọn. Do điều kiện sống khắc nghiệt, lại bị miệt thị, khinh rẻ, trong khi phải “chiến đấu” để bảo vệ bản sắc và tôn giáo Do Thái của mình, nên người Do Thái không có cách nào khác hơn là phải sống nương tựa vào nhau, an ủi nhau, cũng chịu “thử thách của chúa” cho đến “ngày trở về Jerusalem”.

Vấn đề bảo vệ nguồn nước

Hiện nay ở phương Tây, và kể cả Việt Nam nữa, đang có phong trào thách đố nhau tự dội nước đá vào đầu (Ice Bucket Challenge) để góp tiền chữa trị bệnh ALS và để thử thách lòng “can đảm” của nhau (mặc dù ở ta mới thấy có một số người dội nước nhưng chưa thấy đóng tiền, có thể vì chẳng biết đóng ở đâu, đóng cho ai và tiền đó có đến tay bệnh nhân ALS hay không…!). Đặt câu chuyện này trong xã hội Israel thì thấy có phần “nhảm nhí”, cả người khởi xướng và người thực hiện có thể phải “ngồi bóc lịch”, bởi lẽ:

  • Do nước là “vàng trắng”, nên Israel là một trong rất ít nước có luật ghi rất chặt chẽ về việc sử dụng nước, phạt rất nặng các hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và sử dụng nước lãng phí;
  • Cả nước Israel có một hồ nước ngọt duy nhất là Hồ Galile, còn sông Jordan gần như đã cạn kiệt và có thể “nhảy” qua được ở đáy sông vào bất kỳ mùa nào trong năm. Khi làm việc với Đại sứ Dore Gold, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề công cộng Jerusalem (nguyên Đại sứ Israel tại Liên Hợp Quốc và cố vấn an ninh và đối ngoại của Thủ tướng Netanyahu), bạn cho biết tất cả các báo lớn trong nước sẽ chạy tít hàng đầu nếu có tin mực nước Hồ Galile thấp hơn khoảng 1cm so với năm trước, và cả nước sẽ hân hoan, sung sướng nếu nghe tin nước Hồ Galile cao hơn chỉ 0,5cm!
  • Có điều khá ngạc nhiên là ngay cả khi thực hiện chiến dịch Protective Edge chống Hamas vừa qua, Israel không cắt nước và cắt điện cung cấp cho Dải Gaza (phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung của Israel), mặc dù điều này có thể khiến việc chống Hamas dễ dàng hơn vì sợ sẽ gây thảm họa nhân đạo.
  • Việc thực hiện “Ice Bucket Challenge” không chỉ gây lãng phí nước, mà còn cả lãng phí điện (để làm lạnh nước nữa);

Lập luận của người Do Thái là: Một, nếu thực sự quan tâm thì cứ đóng tiền, chứ sao phải dội nước. Hai, còn có rất nhiều hình thức khác vừa “vui nhộn”, vừa tạo sự quan tâm hơn của cộng đồng, mà không cần phải dội nước. Ba, tại sao lại tập trung dồn tiền cho nghiên cứu ALS lớn đến như vậy vì trên thế giới cứ 6000 người, mới có một người mắc ALS. Tạo sao lai không dành tiền và nguồn lực để tạo sự quan tâm của cộng đồng cứu chữa những căn bệnh khác còn nguy hiểm hơn nhiều, như Ebola chẳng hạn. Và còn rất nhiều các lập luận khác nữa. Điều đó, cho thấy trong văn hóa tranh luận và chính trị của người Do Thái, họ luôn nhìn vấn đề từ rất nhiều các góc độ khác nhau để tìm vấn đề và đưa ra giải pháp.

Quốc gia khởi nghiệp 

“Quốc gia khởi nghiệp: Câu chuyện về sự thần kỳ kinh tế của Israel” (nguyên văn: Start-up Nation: The Story of Israel’s Economic Miracle) là cuốn sách của tác giả Dan Senor và Saul Singer in năm 2009 và được khá nhiều người Việt biến đến với bản dịch tiếng Việt in sau đó. Khi đặt chân đến đất nước này, cảm nhận về “quốc gia khởi nghiệp” ngày một rõ nét hơn. Trong trao đổi, các quan chức của bạn nhắc không dưới 15 lần với sự tự hào và kiêu hãnh. “Start-up nation” không chỉ gợi cho mọi người thấy về một đất nước Israel non trẻ, khao khát vươn lên; là nơi các công ty khởi nghiệp (chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao) chen vai thích cánh; mà còn là cách biểu đạt mới để định vị Israel trên bản đồ công nghệ của thế giới. Start-up Nation không chỉ là câu nói xuông, mà là khẩu hiệu hành động của chính phủ; sự hỗ trợ của cộng đồng và thiết chế; và sự hưởng ứng của trí thức/giới doanh nhân trẻ tạo sự đột phá cho Israel.

Israel chọn hướng đi với thương hiệu “Start-up Nation” là có những lý do riêng của mình:

  • Là nước nhỏ, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và không có tài nguyên, nên muốn vươn lên thì Israel không có cách nào khác hơn là phải dựa vào nguồn chất xám, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và tập trung vào các ngành mũi nhọn có khả năng sinh lời “vô hạn”. Chính sách này được Israel thực thi từ khi lập nước, nhưng chỉ mới thực sự đẩy mạnh từ cuối những năm 1970 đến nay. Technion, tức Viện công nghệ Israel (Israel Institute of Technology) có thể sánh ngang với MIT của Mỹ, còn các trường Hebrew University, Tel Aviv University, Ben Gurion University cũng được xếp vào hàng 50 trường Đại học tốt nhất thế giới. Tỷ lệ số người có bằng đại học/tổng số nhân lực tại Israel là 24,5%, cao vào hàng thứ ba thế giới (sau Mỹ và Hà Lan). Hầu hết các “đại gia” phần mềm, công nghệ lớn của thế giới như Apple, Google, Microsoft đều có chi nhánh nghiên cứu, phát triển sản phẩm tại Israel để tận dụng nguồn chất xám có chất lượng tại nước này
  • Người Israel luôn có hàng núi các “ý tưởng”: Trong thời đại ngày nay sức mạnh để cho bất kỳ cá nhân, thiết thế, đất nước đi lên phải bắt đầu từ việc “đẻ” ra càng nhiều ý tưởng mang tính táo bạo, đột phá càng tốt. Cái này cũng giống như câu các cụ nhà ta đúc kết từ lâu: “một người biết lo bằng kho người biết làm”, nhưng chưa được hậu duệ học và làm đến nơi đến chốn. Quả thực, trong thời đại ngày nay, cái quan trọng tạo ra sự khác biệt, tạo ra sự bứt phá là phải là ý tưởng, hiện thực hóa ý tưởng và kinh doanh ý tưởng. Nếu có ý tưởng tốt thì hoàn toàn có thể thuyết phục và thu hút vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Thiếu lao động thì có thể ra thị trường trong hoặc ngoài nước thuê mướn. Nhưng không có ý tưởng táo bạo thì chỉ nội đi làm, gia công thuê đến bị vắt kiệt sức cũng không đủ ăn.
  • Phù hợp với đặc tính đất nước Israel là nhân lực có hạn, nhưng lại rất thông minh và trong kỷ nguyên kỹ thuật số (Digital Era) thì cái chính là có lực lượng “tinh” và “chuyên” , chứ không phải là “lượng”. Các công ty “Start-up” về công nghệ khác với các công ty sản xuất và dịch vụ là thường sử dụng rất ít lao động (khoảng từ 8-25, và tối đa là 40-50 người), chủ yếu là các kỹ sư mới ra trường. Tuy gọi là mới ra trường, nhưng kỹ sự của Israel thường “già dặn” hơn kỹ sự trẻ mới ra trường của các nước khác cả về tuổi đời lẫn sự từng trải do hầu hết sinh viên Israel đều trải qua đời quân ngũ trước khi vào đại học. Sự kết hợp hoàn hảo giữa sự chín muồi về tuổi tác, bản lĩnh “gan lì” của người lính, tính sáng tạo của một nhà khoa học, sự khao khát tìm lợi nhuận hầu như đều tồn tại trong mỗi CEO của các công ty Start-up và do vậy giúp họ vững tin trước các sóng gió trên thương trường.
  • Các kỹ sư công nghệ sau khi tốt nghiệp ra trường đều được khuyến khích cả tài chính lẫn chính sách để mở các công ty Start-up, và được khích lệ bởi các tấm gương thành công như phần mềm dẫn đường WAZE bán lại cho Google được 1,3 tỷ USD. Nếu như thất bại, các kỹ sư trẻ này đi làm cho các công ty đa quốc gia ngay tại Israel hay làm việc tại nước ngoài. Sau một thời gian tích lũy cả thêm kinh nghiệm và xây dựng các công ty mới, và lần này khả năng thành công của họ lớn hơn rất nhiều. Ở Israel, Văn phòng khoa học gia trưởng OCS (Office of the Chief Scientist) thay mặt chính phủ xem xét va quyết định hồ sơ vay vốn ưu đãi của các công ty khởi nghiệp vì nhiều ngân hàng sợ rủi ro không dám đầu tư và số tiền này có thể lên tới 500.000 USD. Đầu tư cho chính phủ dành cho các công ty khởi nghiệp ở Israel tính theo đầu người hiện vào khoảng 270 USD (mức cao nhất thế giới), so với 170 USD của Mỹ. Trong hầu hết các trường hợp OSC chọn cách đầu tư, và hy vọng nếu công ty khởi nghiệp thành công thì họ sẽ thu vốn và lời từ bán cổ phần, còn nếu công ty thất bại thì họ coi đó là một khoản đầu tư rủi ro. Bên cạnh đó, hiện rất nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư vào các công ty khởi nghiệp Israel theo hình thức trên. Nếu tính theo số tiền đầu tư/đầu người, số tiền Israel thu hút được từ các quỹ mạo hiểm này lớn gấp 30 lần so với châu Âu.

Di sản lịch sử

Đến Jerusalem, thăm khu phố cổ (chỉ vẻn vẹn 1km2), được nghe và xem về các bằng chứng lịch sử khu vực này trong suốt trên 3000 năm mới cảm nhận được tính phức tạp của các vấn trong nội bộ một tôn giáo, giữa ba tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa và Đạo Hồi) với nhau, và các biến động lịch sử, các cuộc chiến tôn giáo, rồi các cuộc thay ngôi, đổi chủ. Chẳng hạn:

  • Bất cứ một con đường, một nhà thờ, một ngôi nhà, một khu dân cư… đều đậm nét lịch sử hình thành và tồn tại riêng. Các bằng chứng khảo cổ học trong khu Thành cổ không chỉ trùng khớp với những gì ghi trong kinh thánh của cả 3 tôn giáo, mà còn ẩn chứa trong đó các giai tầng văn hóa, lịch sử tầng tầng, lớp lớp;
  • Ba tôn giáo lớn (Do Thái, Thiên chúa và Đạo Hồi) tuy kình chống nhau quyết liệt, nhưng vẫn tìm cách chung sống hòa bình. Như căn phòng có bữa tiệc cuộc cùng (trước khi Đức chúa bị hành hình) không chỉ có các kiến trúc của đạo Thiên chúa, mà còn các dấu ấn Hồi giáo như nơi làm lễ hướng về Mecca của người Hồi giáo. Ví dụ, như ngay phía dưới căn phòng này là Mộ của Vua David – Vị Vua có công thống nhất đất nước Do Thái. Với cả 3 tôn giáo đều có sự hiện diện trong căn phòng và tòa nhà này, vậy nếu phân chia sở hữu thì sẽ chia như thế nào? Một ví dụ khác là Nhà thờ Hồi giáo mái vàng (Dome of the Rock) được xem là một trong 3 nơi thiêng liêng của người Hồi giáo, nhưng lại đươc xây trên tảng đá linh thiên của người Do Thái ngay sau khi Ngôi đền của họ bị “đốt”.
  • Việc thảo luận về quy chế của Jerusalem không thể chỉ diễn ra giữa Palestine và Israel, mà còn phải tính đến thái độ của cả 1 tỷ người theo đạo Thiên chúa sống rải rác khăp nơi trên thế giới vì họ cũng coi đây là “đất tổ” của mình. Đáng chú ý là ngay Nhà thờ Mộ chúa trong thành cổ Jerusalem có tên là “Church of the Holy Sepulchre”, gồm 6 nhánh của Thiên chúa giáo như Nhà thờ Ethiopia, Nhà thờ Ai cập, Nhà thờ chính thống Armenia hay Nhà thờ chính thống Nga… Như vậy, để hiểu được văn hóa chính trị Trung Đông thì điều cốt yếu là phải hiểu được các vấn đề tôn giáo ở khu vực.

Trở lại vấn đề Israel, hầu hết những người nghiên cứu chính trị Israel, nắm được tư duy Do Thái, và tính phức tạp trong cấu trúc kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo Israel đều có nhận định chung là: tuy chỉ có hơn 8 hơn triệu dân, nhưng hệ thống chính trị của Israel được xem là hệ thống chính trị phức tạp nhất thế giới. Điều này là do:

  • Người Do Thái rất thông minh, rất nhiều ý kiến;
  • Cấu trúc hệ thống chính trị Israel buộc các chính trị gia phải tiếp xúc, lắng nghe và đưa tiếng nói của người dân (hoặc các đại diện của người dân) khi ra các quyết sách;
  • Bất kỳ người Israel nào cũng cho rằng mình có khả năng nắm cương vị cao nhất của đất nước. Họ thậm chí còn chất vấn gay gắt ông Thủ tướng về các quyết định của mình, cho rằng “ông Thủ tướng cũng đi tỵ nạn ở châu Âu như chúng tôi, vậy tại sao ông ấy lại gạt bỏ chúng tôi trong các quyết định của mình”.

Trước đây khi đọc câu nói của bà Golda Meir (vị nữ Thủ tướng dân cử thứ ba của thế giới) khi gặp Tổng thống Nixon rằng, “ông là Tổng thống của 150 triệu dân, còn tôi là Thủ tướng của 6 triệu Thủ tướng” thì chưa thực sự biết hàm ý câu này. Giờ mới thấy rõ ý câu này là làm chính trị ở Israel khó hơn ở Mỹ và Mỹ không nên hiểu, không ép Israel một cách quá mức.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/10/09/tim-hieu-israel-va-dan-toc-do-thai/#sthash.KRib9Uhi.dpuf

Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái

 

Thành công của người Do Thái nhiều người đã biết, đã nghe từ lâu và có thể kể cả ngày, cả tháng cũng không hết. Là người đã tìm hiểu câu chuyện này cả chục năm nay, càng đi sâu tìm hiểu về những thành công của Israel và người Do Thái, tôi càng thấy phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị. Chuyến đi Israel lần này, ngoài các công việc thường lệ, rất nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với nhiều người, nhiều giới, nhiều nơi khác nhau giúp tôi kiểm chứng, củng cố thêm các nhận định trước đây của mình; biết thêm nhiều vấn đề mới; đồng thời cũng xóa bỏ một số các định kiến một chiều, phiến diện.

Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Mosses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt.. ) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

Có ba câu chuyện ngồi ngẫm lại thấy khá hay và cũng phần nào liên quan đến chủ đề sắp bàn dưới đây.

CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

CÂU CHUYỆN 3: Khi vào phòng làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng của họ, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy phòng khách bày biện khá đơn giản, không rõ chỗ ngồi của chủ và khách. Bèn hỏi cô lễ tân là ngồi thế nào, cô để “Sếp” cô ngồi đâu. Câu trả lời là: Các ông ngồi thế nào thì tùy và chỉ cần để một chỗ cho ông ấy ngồi là OK. Sau này mới thấy rõ hơn, trừ một số cuộc gặp phải tuân thủ một số nghi lễ ngoại giao bắt buộc, việc ngồi tự do (free sitting) tạo không khí thảo luận thoải mái và bình đẳng giữa chủ và khách, càng ngạc nhiên hơn khi đây cũng chính là cách người Israel ngồi khi thảo luận nội bộ!

Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

Ta hãy đi từng vấn đề một:

Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

Thứ hai, trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người cho trí tưởng tượng bay bổng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về luật.

Thứ ba, các bạn Israel cho biết, cuốn Kinh Torah giống như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn kinh với các “Giáo điều”. Chẳng hạn, trong Kinh Torah ghi rõ ngày Thứ 7 là ngày Chúa nghỉ ngơi, nên tất cả mọi người Israel, kể cả các nô lệ và súc vật không được làm việc trong những ngày này. Ngày lễ Thứ 7 của họ gọi là ngày lễ Do Thái (Sabbath) được xem là ngày “nghỉ tuyệt đối”, theo đó Chúa khuyên các thành viên trong gia đình dành thời gian này bên nhau, cùng trò chuyện, đi chơi, vợ chồng “yêu” nhau, gia đình cùng nhau đi đến nhà thờ (Synagogue). Trong ngày này, mọi người không được bật lửa (vì thời xa xưa, bật lửa có nghĩa là phải vào bếp nấu nướng, tức vẫn “đi làm”) và ăn đồ ăn được chuẩn bị từ hôm trước. Thậm chí thang máy trong các cao ốc cũng để “chế độ Sabath”, tức người Do Thái không dùng tay bấm nút (biểu hiện của “làm việc”), mà để thang tự chạy automatic và mở cửa trước từng tầng một từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất của tòa nhà. Ngày Chủ nhật là ngày làm việc đầu tiên của họ, và điều ngạc nhiên là theo cách gọi trong Kinh thánh Do Thái các ngày làm việc trong tuần theo tuần tự là các ngày “sáng tạo”, chứ không phải ngày “đi làm”.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

  • Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;
  • Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);
  • Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;
  • Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.

Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

Một là, sự sùng đạo, khiến người Do Thái phải đọc kinh liên tục, đọc thuộc làu, đọc ở trong nhà, đọc ngoài đường, đọc ở nhà thờ… giúp người Do Thái giữ được tiếng nói, nhận diện được ngôn ngữ đặc trưng của mình và được truyền từ đời này qua đời khác.

Hai là, khi lưu lạc sang các xứ khác nhau, ngữ âm của họ có bị thay đổi do phát âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng cơ bản họ vẫn hiểu được nhau dù lang bạt hàng ngàn năm, và tới tận 73 quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Điều đó giải thích tại sao người Do Thái từ “tứ xứ” đổ về, nhưng đã nhanh chóng gắn kết với nhau ngay sau khi Israel được tái lập năm 1948.

Ba là, không chỉ thạo tiếng Hebrew, mà người Do Thái còn thạo tiếng bản địa nơi họ sinh sống. Như vậy trên thực tế, người Do Thái sử dụng thông thạo hai ngoại ngữ từ rất sớm. Khoa học đã chứng minh, những người hoặc nhóm cộng đồng sử dụng được trên 1 ngoại ngữ thường có chỉ số IQ lớn hơn nhóm, hoặc người sử dụng ít ngôn ngữ hơn. Không chỉ vậy, kinh thánh không chỉ là phương tiện duy trì ngôn ngữ, mà còn giúp họ mở mang các kiến thức luật, kinh tế và khoa học thông thường ở trong đó.

Bốn là, niềm ao ước tột cùng trở về Jerusalem cũng được ghi trong Kinh thánh. Thời cổ đại, dù muốn đi đâu, làm ăn gì, thì người Do Thái cũng quy ước về quần tụ tại Jerusalem để hành lễ ít nhất là 4 lần 1 năm. Đến nay, truyền thống đó vẫn được duy trì và người Do Thái ở Israel thường về Jerusalem mỗi năm một lần, còn người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới thì về ít nhất 1 lần trong đời. Kinh Thánh Do Thái ra đời trong bối cảnh người dân Do Thái đã từng mất tổ quốc, mất Jerusalem trong một thời kỳ dài từ hàng trăm năm trước đó. Do đó, Kinh Thánh nhắc nhở người Do Thái rất kỹ về điều này. Truyền thống có từ cả ngàn năm nay và đến nay vẫn được duy trì trong cộng đồng Do Thái, là khi gặp nhau, hoặc khi viết thư, họ thường nói đến việc “sớm hẹn gặp nhau tại Jerusalem”, “hẹn gặp tại Jerusalem vào năm tới”. Do đó, ước nguyện trở về Jerusalem, lấy lại Jerusalem luôn cháy bóng trong mỗi người Do Thái và họ không bao giờ quên điều này khi tha hương.

Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gien “xấu”, lấy và nhân giống gien “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như ngoài Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gien” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà. Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

  • Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;
  • “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);
  • Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

  • Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.
  • Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.
  • Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.
  • Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

Về các thức ăn Kosher:

  • Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà.  Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.
  • Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.
  • Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.
  • Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

Về cách ăn đồ Kosher:

  • Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.
  • Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.
  • Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.
  • Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,
  • Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN THÔNG MINH, KHOA HỌC, THẬM CHÍ LÀ LÝ TƯỞNG không chỉ của người Do Thái, mà của con người nói chung. Nếu chỉ khuyên nhủ thông thường sẽ ít người theo, nhưng khi khoa học được “phủ” một lớp màu tôn giáo thì Kosher đã trở nên thành món ăn kỳ ảo, mê hoặc và quyến rũ.

Tạm cắt nghĩa một số thứ:

  • Theo người Do Thái, con vật cũng như con người đều có linh hồn. Nếu làm cho con vật chết đau đớn thì nó sẽ oán trách và cả người thịt lẫn người ăn nó đều bị “quở phạt”. Do đó, giết nhanh để con vật mau chóng được hóa kiếp lên thiên đàng.
  • Khi con vật cắt được tiết nghĩa là con vật còn tươi, chứ không phải ăn đồ ôi. Thú tính và sự ngu muội của con vật nằm ở “dòng máu”, và ăn thú vật hay gia cầm có tiết sẽ làm con người lâu dần nhiễm “thú tính” và đầu óc trở nên trì độn, còn nòi giống đi đến chỗ thoái hóa.
  • Thịt ăn cùng với cá không còn tác dụng bổ dưỡng nữa, mà triệt tiêu lẫn nhau. Còn trái cây trong 3 năm đầu thường chứa nhiều chất, độc tố có hại cho cơ thể.
  • Uống sữa sau khi ăn thịt không tốt cho sức khỏe vì bản thân thịt nhiều chất đạm, lâu tiêu lại có thêm chất bổ dưỡng khác nữa làm cho cơ thể không thể hấp thụ nổi và dễ sinh bệnh.
  • Trong điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt của vùng Bắc Phi – Trung Đông, việc ăn uống tốt giúp người Do Thái chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt, làm cho không chỉ thể trạng khỏe khoắn mà trí tuệ của họ cũng hơn người. Các cụ nhà ta chả nói bệnh vào từ mồm đó sao?

Như vậy, trải qua cả ngàn năm, với cuốn Kinh Thánh Hebrew, người Do Thái không chỉ thành công trong việc bảo tồn, mà còn phát triển bản sắc, văn hóa, tôn giáo của mình. Không những vậy, thông qua ăn uống, cuộc sống tinh thần lành mạnh, làm cho “gien Do Thái” vốn đã ưu việt, ngày một trở nên ưu việt hơn. Khác với các tôn giáo khác, người Do Thái không tìm cách phát triển tôn giáo của mình qua con đường truyền đạo như Đạo Hồi, Đạo Thiên chúa, hay Đạo Phật, mà tìm cách giữ sao cho Do Thái giáo càng “thuần khiết” càng tốt. Phải chăng những người được Chúa “chọn mặt gửi vàng” đâu có thể phát triển tràn lan được!

Có lẽ chính vì vậy mà cách đây từ trên 3.000 năm Nhà tiên tri Moses của người Do Thái đã lường trước điều này khi ông, ngay từ khi đó, đã hình dung ra rằng nếu người Do Thái làm theo các lời răn dạy của ông thì họ sẽ trở thành đối tượng bị săn đuổi và tận diệt của nhiều sắc dân khác và vì vậy đã chuẩn bị cho họ hành trang đầy đủ trong cả ngàn năm thiên di trước khi “trở về Jerusalem”. Điều ngạc ngạc nhiên là người Do Thái không than thân, trách phận mà họ coi đó là “sự thử thách” của Chúa trời đối với dân tộc Do Thái!

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/10/10/giai-ma-thanh-cong-cua-israel-va-nguoi-do-thai/#sthash.8FMAW1rP.dpuf

Mời độc giả xem các sách có liên quan :
1. Quốc gia khởi nghiệp
Xem sách
2. Bí quyết kinh doanh của người Do Thái
Xem sách
3. Cánh cửa trí tuệ của người Do Thái
Xem sách
4. Trí tuệ Do Thái
Xem sách
5. Những tặng phẩm của người Do Thái
Xem sách

Tháng Tám 14, 2015 Posted by | Chuyên mục khác | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

10 động tác hỗ trợ điều trị dứt điểm bệnh tê chân tay

10 bài tập dưới đây sẽ giúp cho quá trình lưu thông máu lưu thông tới tứ chi dễ dàng hơn, cơ thể cũng trở nên thư giãn, các cơ linh hoạt mềm mại hơn, từ đó giúp cải thiện chứng tê chân tay ở người cao tuổi.

Tất cả các bài tập này cần phải thực hiện cả hai bên trái, phải, kiên trì tập luyện trong vòng 2 tháng sẽ cho kết quả rõ rệt.

1. Bóp và xát chân

Ngồi trên bất kỳ mặt phẳng nào có thể duỗi thẳng chân được. Duỗi thẳng hai chân ở tư thế ngồi trên các mặt phẳng giường hoặc ghế. Dùng hai tay nắm lấy cổ chân bên trái giữ vài giây, rồi dùng tay chà xát từ gót lên tới đùi 3 lần. Sau đó lặp lại động tác tương tự với chân bên phải.

2. Xoa hai đầu gối

Ngồi trên giường hoặc ghế, chân duỗi thẳng hoặc co. Dùng hai tay để trên hai đầu gối, xoay hai tay theo chiều kim đồng hồ trong vòng 20 lần, lặp lại 20 lần khi xoay ngược lại.

3. Quay cổ chân

Bài tập này bắt buộc người bệnh phải duỗi thẳng hai chân trên các mặt phẳng, hai tay hai chân đều thả lỏng, cổ chân tự xoay theo hai chiều, mỗi chiều 10 vòng.

4. Xát lòng bàn chân

Ngồi trên giường, để chân trái lên đùi phải. Đầu tiên dùng tay trái kéo căng lòng bàn chân, giữ nguyên kết hợp với dùng tay phải xát nhẹ nhàng lòng bàn chân trái. Lặp lại trong vòng 30-50 lần sau đó đổi chân thực hiện các thao tác tương tự.

5. Luyện tay – vận động hai vai

Người bệnh ngồi trên ghế cứng hoặc giường sao cho lưng thẳng, xoay tròn vai trừ trước ra sau và theo chiều ngược lại mỗi bên 10 vòng nhưng với điều kiện vẫn giữ hai tay cố định phía trước bụng.

6. Hai tay đỡ trời

Hai bàn tay đan chéo vào nhau sao cho lòng bàn tay úp xuống mặt đất, để ngang với bụng rồi từ từ nâng ngang tầm mũi. Sau đó nhanh chóng chuyển hướng cho lòng bàn tay ngửa lên trời giống như động tác nâng đỡ, nâng hai tay lên cao mắt hướng theo kết hợp hít vào thật sâu. Cuối cùng thả hai tay xuống ngang hai bên hông đồng thời thở ra.

Lặp lại động tác như trên 5 lần mỗi ngày.

7. Xoay vai

Người đứng thẳng, hai chân dang rộng bằng vai, để hai tay lên hai vai, xoay tròn vai từ sau ra trước và từ trước ra sau, mỗi chiều lặp lại 10 lần.

8. Xoay cổ tay

Hai tay đan vào nhau, tiến hành xoay cổ tay theo chiều kim đồng hồ 10 vòng, xoay theo chiều ngược lại cũng 10 vòng.

9. Xát mu bàn tay

Động tác này có thể áp dụng bất cứ khi nào người bệnh có thời gian rảnh rỗi, nên luyện tập thường xuyên và duy trì mỗi ngày.

Dùng lòng bàn tay bên trái xát mạnh lên mu bàn tay bên phải và ngược lại, thực hiện trong vòng 20 lần.

10. Bóp và xát tay

Chứng tê tay sẽ giảm đi rất nhiều nếu người bệnh kiên trì áp dụng động tác bóp và chà xát tay dưới đây.

Dùng tay bên phải, bóp nhẹ nhàng từ cổ tay lên vai ở bàn tay bên trái, lặp lại 3 lần. Tiếp tục dùng 3 ngón tay giữa, áp út và ngón út chà xát mạnh phía bên trong cổ tay từ dưới lên vai, rồi dùng ngón cái  và trỏ xát mạnh phía ngoài cổ tay từ vai xuống. Đổi tay và lặp lại thao tác tương tự.

Trinh Dương

Tháng Tám 4, 2015 Posted by | Chuyên mục khác | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?